Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Trên thế giới, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn từ đầu thập kỷ 80. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định ưu việt, đó là liên kết quản lý khu rừng đặc dụng; khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và vườn quốc gia (VQG) với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các hoạt động trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa trong quá trình xây dựng các quyết định. Ý tưởng về một khu rừng nhất định cần được bảo vệ khỏi tác động khai thác sử dụng thường nhật của con người đã có ít nhất từ 3000 năm trước đây vào thời vua Ai Cập Ikhnaton hoặc thậm chí sớm hơn (Alison 1981, trong Hunter 1996) (dẫn theo Nguyễn Xuân Đặng, 2005).
Nguồn gốc của KBTTN “hiện đại” có từ thế kỷ 19. VQG Yellowstone là VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872. VQG này nằm trên vùng đất do người Crow và người Shosshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời khỏi mảnh đất của họ. Nhiều KBTTN và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này.
Dựa trên mô hình Hoa Kỳ, phương thức quản lý của nhiều VQG và Khu bảo tồn chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào Khu bảo tồn và khai thác tài nguyên rừng. Điều đó dẫn đến những hậu quả tất yếu làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương, khu bảo tồn, từ đó mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được (IUCN Việt Nam, 2008). Tại các nước Đông Nam Á phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học (ĐDSH) thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với 4 nguồn tài nguyên rừng, trong khi sự phụ thuộc của họ vào tài nguyên rừng là rất lớn. Ở Nepal, đã có một số mô hình thành công về chương trình bảo tồn đa dạng sinh học theo hướng toàn cầu.
Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động xấu đến các hoạt động bảo tồn và động vật hoang dã. Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những hoạt động này đến bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây Nepal đã được thực hiện. Nghiên cứu đã khẳng định 73% người dân địa phương sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và thức ăn (Alice Sharp, và cộng sự,1999). Các mô hình ở Đông Nam Á đã chỉ ra rằng: Nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các Khu bảo tồn đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý tài nguyên rừng và KT - XH.
Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khác nào “bắt cá khỏi nước” và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác tài nguyên rừng mà không có người bảo vệ. Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này (Lê Sỹ Trung, 2005). Trước những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG và Khu bảo tồn trên thế giới từ những năm đầu của thập kỷ 80 đã có nhiều nghiên cứu, hội thảo quốc tế với sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tồn đã đề xuất những thay đổi trong chiến lược bảo tồn. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa trong quá trình xây dựng các quyết định.
5 Ở Thái Lan, một thử nghiệm của Dự án “Quản lý bền vững thông qua sự cộng tác” đã thực hiện tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Phu Kheio, tỉnh Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan. Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu nhập của họ (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên, 2007). Hệ thống quản lý các khu bảo vệ trước đây đã nhấn mạnh các quyền sở hữu và kiểm soát rừng của nhà nước mà không chú ý tới ảnh hưởng giữa con người và các nguồn tài nguyên, đã dẫn tới những thất bại vì tỷ lệ phá rừng hàng năm vẫn ở mức cao tới 2,6%. Bink Man W (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong, tỉnh S.
Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như củi đun và hoa quả trong rừng (dẫn theo Trần Ngọc Thể, 2009). Ở Philippines chiến lược Quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học nêu rõ rằng “Điều chủ chốt dẫn đến chiến thắng cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải đảm bảo rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quy định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học (Denr và TCSD, 1994) (dẫn theo Lê Sỹ Trung, 2005). Ở Indonesia, kế hoạch hành động đa dạng sinh học ghi nhận rằng “Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch” (Bappenas, 1993) (dẫn theo Lê Sỹ Trung, 2005). Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G.
cho rằng đối với cộng đồng dân cư sống trong và gần các KBTTN, một giải pháp đề nghị là cho phép người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ 6 thống quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất, nhà nước cần xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận với mục đích tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng (dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004).A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999) lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẩn đến tính kém hiệu quả của các chương trình, dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa phương với lợi ích quốc gia. Do đó, chưa phát huy được năng lực nội sinh của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên. Vì vậy, quản lý tài nguyên cần phát triển theo hướng kết hợp giữa hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thống nhất lợi ích của người dân với lợi ích quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng. Theo Nick Salafky và các cộng sự (trong Biodiversity Support Program Washington, DC, USA, 2000), cho rằng vào những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu lợi ích kinh tế và bảo tồn.
Những cách tiếp cận này dựa vào việc thực hiện các hoạt động sinh kế độc lập và có mối quan hệ trực tiếp với bảo tồn. Đặc điểm cơ bản của chiến lược này là mối liên hệ giữa ĐDSH và con người xung quanh. Cũng trong chiến lược này, các nhà bảo tồn có thể giúp người dân địa phương khai thác sử dụng LSNG hoặc phát triển du lịch sinh thái (dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004). Ở Việt Nam Trong nhiều năm qua, ở trong nước đã có nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả QLR theo quan điểm bảo tồn - phát triển.
Đó là làm sao dung hòa mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương. (1997) đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng. Tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở 7 miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một nghiên cứu về quản lý vùng đệm tại VQG Ba Vì, VQG Bạch Mã và VQG Cát Tiên, kết quả nghiên cứu đã phản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở các VQG Việt Nam, đặc biệt là mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và tài nguyên rừng, các xu hướng tác động của người dân đối với tài nguyên rừng để phát triển sinh kế. Lê Quý An (2001), đã khẳng định quản lý QLR trên cơ sở cộng đồng là phát huy lợi thế của cộng đồng, hạn chế tác động tiêu cực trong các hoạt động bảo tồn.
Cộng đồng còn có thể phát huy những mặt hay của phong tục, tập quán trong mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên để xây dựng nề nếp của cuộc sống lành mạnh về mặt môi trường, góp sức cho việc bảo tồn. Đỗ Anh Tuân, 2001 thực hiện một nghiên cứu điểm tại KBTTN Pù Mát cho đề tài ảnh hưởng của bảo tồn tới sinh kế của các cộng đồng địa phương và thái độ của họ về các chính sách bảo tồn. Tác giả chủ yếu đánh giá sự thay đổi sinh kế của người dân địa phương do sự ảnh hưởng của Khu bảo tồn và mức độ chấp nhận của cộng đồng thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng và tài nguyên. Nghiên cứu cho rằng hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng tài nguyên rừng một cách bất hợp pháp.
Tại thời điểm nghiên cứu, trung bình 34% tổng thu nhập hàng năm của một HGĐ trong vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một HGĐ trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là từ rừng.