CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vấn đề nghiên cứu trên thế giới Rừng được coi là lá phổi xanh của nhân loại, mất rừng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho loài người chứ không chỉ riêng một dân tộc, một quốc gia nào. Trong những năm gần đây diện tích rừng ở Việt Nam cũng như tại các nước đang phát triển bị suy giảm nhanh chóng.
Theo tài liệu của Đại hội Lâm nghiệp diễn ra vào tháng 10 năm 1997 tại Thổ Nhĩ Kỳ, tổ chức Nông lương thế giới FAO đã thống kê được sự suy giảm diện tích rừng trong những năm vừa qua là hết sức nghiêm trọng. Theo thống kê, trong giai đoạn 1990 - 1995, khi Châu Âu và khu vực Bắc Mỹ trồng được 8,50 triệu ha rừng, thì các châu lục khác bị mất đến 64,90 triệu ha rừng. Diện tích rừng, độ che phủ rừng, tỷ lệ mất rừng hàng năm trên thế giới, Đông Nam Á và Việt Nam được thể hiện tại bảng 1. Thống kê một số vấn đề về tài nguyên rừng trên thế giới Thế Đông Nam Việt Stt Chỉ tiêu Đơn vị giới Á Nam 1 Diện tích rừng Triệu (Ha) 3.454,4 202,6 12,28 2 Độ che phủ % 27 47 36,7 3 Theo đầu người Ha/người 0,6 0,42 0,14 4 Tỷ lệ mất rừng hàng năm % 0,3 1,4 1,4 Các chỉ tiêu cho thấy tỷ lệ che phủ của rừng ở Việt Nam lớn hơn so với tỷ lệ che phủ rừng trung bình của thế giới, nhưng trên thực tế diện tích rừng tính theo đầu người thì Việt Nam nằm ở dưới mức trung bình (0,14 ha) so với Đông Nam Á (0,42 ha) và bằng 1/4 so với thế giới (0,6 ha).
Nguyên nhân của tình trạng suy giảm diện tích rừng có nhiều nhưng chủ yếu do sự thay đổi thời tiết bất thường trên toàn cầu cũng như tại mỗi khu vực và nguyên nhân trực tiếp vẫn là tình trạng phá rừng để phát triển sản xuất nông nghiệp theo phương thức quảng canh của các cộng đồng dân cư tại các nước đang phát triển mà điển hình là hình thức canh tác nương rẫy, trong đó có Việt Nam. Như vậy, sự đói nghèo và tình trạng phá rừng diễn ra song hành với nhau như “hai chân đi về một hướng”. Hiện nay, các nhà khoa học ước tính có khoảng từ 250 đến 300 triệu người trên thế giới đang sống bằng hình thức canh tác nương rẫy và tác động đến gần một nửa diện tích đất của vùng nhiệt đới. Trong đó, riêng 4 vùng Châu Á Thái Bình Dương đã có hơn 30 triệu người sống phụ thuộc vào hệ canh tác nương rẫy trên diện tích khoảng 75 triệu ha (Srivastava, 1986).
Canh tác nương rẫy là một dạng sử dụng đất, có lịch sử lâu đời và tỏ ra phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng nhiệt đới. Trong hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống chỉ có từ 5% đến 10% diện tích đất được sử dụng theo đúng nghĩa, còn lại bị bỏ hoang hoá để tự phục hồi gọi là thời kỳ hưu canh (Fallow). Canh tác nương rẫy xét về một góc độ nào đó thì có thể coi là một phương thức sử dụng đất bền vững trong điều kiện mật độ dân số thưa như ở Borneo hoặc như ở bán đảo Malaysia (Abdul và Faizah, 1988). Tại miền trung Ấn Độ, 17,52% diện tích của bang Orissa bao gồm khoảng một triệu người vẫn đang duy trì hình thức canh tác nương rẫy, hình thức canh tác này là phương tiện sống duy nhất của một bộ phận dân cư đang sống, bởi sức ép dân số và không có diện tích đất thích hợp để canh tác nông nghiệp bền vững (UNESCO,1979).
Ở Indonexia một bộ phận lớn dân số đang canh tác nương rẫy ở các vùng có mật độ dân số thưa ngoài đảo Java và Bali, hậu quả của hình thức canh tác này là đã để lại một thảm cỏ tranh 16 triệu ha và hàng năm diện tích này tăng thêm 150 nghìn ha. Chính phủ Indonexia đã có chính sách cải tạo diện tích đất bị thoái hoá bằng các chương trình di dân và nông nghiệp thâm canh. Tại bang Sarawak miền Đông Malaysia, canh tác nương rẫy được diễn ra rất phổ biến tại các triền núi thuộc vùng nhiệt đới, năm 1976 có khoảng 50 nghìn hộ trực tiếp canh tác nương rẫy, người ta ước tính có khoảng 2,8 triệu ha đất đang hoặc đã qua canh tác nương rẫy, hàng năm có khoảng 30 nghìn ha rừng nguyên sinh bị chặt hạ để làm nương rẫy, vì vậy vô hình đã biến những diện tích rừng nguyên sinh thành những vùng đất trống đồi núi trọc chỉ sau một vài chu kỳ canh tác. Chính phủ Malaysia đã có nhiều cố gắng khuyến khích người dân xanh hoá những diện tích này nhằm phát triển kinh tế cũng như cải tạo môi trường sinh thái bằng cách trồng cây công nghiệp nhiệt đới, như: Cà phê, Cao su, Hồ tiêu và các loại cây ăn quả khác.
Tại Philippin có khoảng 120 nghìn hộ gia đình trực tiếp tham gia hoạt động nương rẫy, hàng năm có đến 172 nghìn ha rừng bị tàn phá thì có đến 80 nghìn ha bị quy cho là do canh tác nương rẫy. Hoạt động nương rẫy không chỉ giới hạn ở các tộc người vùng cao mà còn có những người nông dân nghèo vùng thấp thiếu đất canh tác hay dân nghèo thành thị tham gia. 5 Như vậy, canh tác nương rẫy không phải là phương thức canh tác dành riêng cho các tộc người lạc hậu, bởi vì hình thức canh tác này còn được thực hiện ở các nước như SriLanka, Hàn Quốc v.Tại vùng núi phía bắc của Hàn Quốc, những người chạy chốn lên núi vì chính trị hay tôn giáo cũng thực hiện canh tác nương rẫy du canh. Người ta chia canh tác nương rẫy ra làm hai dạng, đó là canh tác nương rẫy cục bộ (Partial Swidden) là dạng canh tác chỉ liên quan đến mục đích kinh tế của người thực hiện (người từ nơi khác đến làm nương rẫy để sản xuất cây hàng hoá và làm kinh tế), dạng canh tác nương rẫy truyền thống (Integral Swidden) là phương thức canh tác đã trở thànhg phong tục tập quán của người dân địa phương.
Canh tác nương rẫy đã gây ra tình trạng xói mòn, thoái hoá đất do vậy để phục hồi lại những vùng đất bị xói mòn, thoái hoá, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu, những công trình nghiên cứu điển hình về tình trạng xói mòn đất đã được thực hiện, như: Công trình nghiên cứu về xói mòn được nhà bác học Volni tiến hành vào năm 1870; Hudson, 1981; ông đã sử dụng một hệ thống ô thí nghiệm để nghiên cứu hàng loạt các nhân tố liên quan đến xói mòn đất, như loại đất, độ dốc, thực bì, lớp phủ bề mặt, kỹ thuật canh tác vv. Tiếp sau công trình của Volni, những nghiên cứu về xói mòn được thực hiện ngày một nhiều ở Liên Xô cũ, Mỹ và một số nước phát triển khác. Trong thời gian gần đây với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, những nghiên cứu nhằm phục hồi, phát triển đất trống đồi núi trọc đã và đang được thực hiện tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam Trong những năm gần đây, tình hình phát triển Lâm nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta có nhiều chuyển biến tích cực.
Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì quá trình phát triển vẫn còn tương đối chậm, diện tích đất trống đồi núi trọc, đất không được sử dụng có hiệu quả và hợp lý vẫn không ngừng đã gia tăng. Trong những năm qua, các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý có những công trình nghiên cứu và đưa ra các chính sách để phục hồi phát triển và đưa những diện tích đất trống đồi núi trọc vào sản xuất nhằm phát triển kinh tế cũng như giải quyết vấn đề nông thôn miền núi. Điểm qua những công trình nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Đình Huấn, (1988); Trần Thị Quế, (1989); Trần Thanh Bình (1997) [2]; Phùng Ngọc Lan (1994); Bùi Minh Vũ (1994); Nguyễn Xuân Quát (1994) [17]; Vũ Văn Mễ (1994); Nguyễn Cát Giao (1994); Lê Xuân Lịch 6 (1996); Chu Hữu Quý (1996); Lê Văn Khoa; Trần Thị Lành (1997); Vũ Văn Tuấn; Trần Thị Vân Anh (1997); Trần An Phong (1998); vv… Các công trình nghiên cứu bảo vệ đất đầu tiên được tiến hành từ những thập kỷ 60 của thế kỷ XX, những cơ quan nghiên cứu khoa học tham gia trong lĩnh vực này bao gồm: Viện Nông hoá thổ nhưỡng, trường Đại học Nông nghiệp, trường Đại học Tổng hợp, Đại học Lâm nghiệp, Đại học Sư phạm Hà Nội và một số trung tâm nghiên cứu khác gồm những nhà khoa học có chuyên môn: Đào Khương; Vũ Hữu Giao (1970); Nguyễn Quang Mỹ (1990); Lê Văn Lanh (1991); Bùi Quang Toản (1996) [21]; Thái Phiên; Nguyễn Tử Siêm (1992); Huỳnh Đức Nhân (1993); Vương Văn Quỳnh (1994); Vi Văn Viện; Lâm Quế Như (1994) tham gia nghiên cứu. Tuy nhiên trong giai đoạn đó, đất nước còn gặp nhiều khó khăn, công tác nghiên cứu bảo vệ đất trong các hệ canh tác đòi hỏi kinh phí lớn, phương tiện hiện đại.
Do đó kết quả mang lại không được như sự mong đợi của xã hội. Ở Việt Nam, trong tổng số 54 dân tộc, theo số liệu thống kê năm 1989, tổng số người tham gia vào hoạt động canh tác nương rẫy là 2,9 triệu người tương đương với 500.000 hộ gia đình, diện tích đất canh tác nương rẫy là 3,5 triệu ha, phân bố chủ yếu ở các vùng núi Duyên Hải miền Trung, vùng núi Bắc bộ và Tây Nguyên (Đỗ Đình Sâm, 1994). Trong giai đoạn 1991-1995 hàng năm có hơn 46 nghìn ha rừng bị mất, trong đó 63,4% là rừng sản xuất, rừng phòng hộ 35% và 1,6% là rừng đặc dụng (Nguyễn Huy Phồn - Phạm Đức Lân, 1998). Trên địa bàn Tây Nguyên, năm 1972 trung tâm lâm nghiệp nhiệt đới và nhóm nghiên cứu Lâm nghiệp xã hội thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành điều tra nông thôn nhằm thu thập thông tin cơ bản để phục vụ xây dựng Dự án phát triển lâm, nông, công nghiệp và định canh định cư theo chương trình 327 tại xã Sơpai huyện Kbang.
Kết quả điều tra cho thấy thực trạng đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc BaNa ở đây còn gặp rất nhiều khó khăn, cuộc sống của họ phụ thuộc hoàn toàn vào nương rẫy. Kết quả nghiên cứu được thể hiện qua một số vấn đề: - Việc sử dụng đất theo hướng phá rừng làm nương rẫy còn phổ biến, đây là hình thức sử dụng đất hết sức lãng phí, tác động tiêu cực đến tài nguyên môi trường.