Nghiên cứu sử dụng hiệu quả đất trống đồi trọc tại Thải Giàng Phố, Bắc Hà

Luận văn thạc sĩ phân tích cơ sở khoa học, đề xuất giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên đất trống đồi núi trọc tại Thải Giàng Phố, Bắc Hà, Lào Cai.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2007

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cảm ơn

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Vấn đề nghiên cứu trên thế giới

1.2. Vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

2.1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1.1. Về mặt lý luận

2.1.2. Về mặt thực tiễn

2.2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.3.1. Nghiên cứu một số cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc

2.3.2. Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc quy hoạch sử dụng diện tích đất trống đồi núi trọc xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai

2.3.3. Đề xuất phương án quy hoạch diện tích đất trống đồi núi trọc xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1.1. Thu thập số liệu về cơ sở lý luận và thực tiễn về QHSDĐ cấp vi mô
2.4.1.2. Thu thập số liệu về điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội của địa phương
2.4.1.3. Thu thập thông tin từ các mô hình canh tác sử dụng ĐTĐNT trong vùng
2.4.1.4. Lập kế hoạch cho việc sử dụng tài nguyên đất trống đồi núi trọc

2.4.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu và đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện quy hoạch

2.4.2.1. Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu
2.4.2.2. Phương pháp đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện kế hoạch

2.5. Giới hạn của đề tài

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nghiên cứu một số cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc

3.1.1. QHSDĐ cấp vi mô trong hệ thống QHSDĐ ở nước ta hiện nay

3.1.2. QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân

3.1.2.1. Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân
3.1.2.2. QHSDĐ có sự tham gia của người dân
3.1.2.3. Thực tiễn ứng dụng của PRA tại Việt Nam

3.1.3. QHSDĐ cấp vi mô theo quan điểm bền vững

3.1.4. QHSDĐ cấp vi mô trong nền kinh tế thị trường

3.1.4.1. Khái niệm về thị trường và kinh tế thị trường
3.1.4.2. QHSDĐ cấp vi mô trong nền kinh tế thị trường

3.1.5. Tìm hiểu vị trí và chức năng của cấp xã trong công tác quản lý nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc tại địa phương

3.1.5.1. Cơ sở, căn cứ pháp lý cho công tác quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc tại địa phương
3.1.5.2. Vị trí và chức năng của cấp xã đối với công tác quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp

3.2. Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc quy hoạch sử dụng diện tích đất trống đồi núi trọc xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai

3.2.1. Thu thập thông tin từ các mô hình hiện đang canh tác trong xã

3.2.2. Phân tích hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác hiện có tại xã

3.2.3. Đề xuất các mô hình canh tác nên được sử dụng cho quy hoạch phát triển sử dụng diện tích đất trống đồi núi trọc tại xã Thải Giàng Phố-huyện Bắc Hà- tỉnh Lào Cai

3.3. Đề xuất phương án quy hoạch diện tích đất trống đồi núi trọc xã Thải Giàng Phố - huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai

3.3.1. Điều kiện tự nhiên của xã Thải Giàng Phố

3.3.1.1. Vị trí địa lý
3.3.1.2. Thổ nhưỡng
3.3.1.3. Khí hậu - thuỷ văn
3.3.1.4. Tài nguyên thiên nhiên

3.3.2. Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội của xã Thải Giàng Phố

3.3.2.1. Dân cư và phân bố dân cư
3.3.2.2. Các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp và ngành nghề khác
3.3.2.3. Cơ sở hạ tầng
3.3.2.4. Tình hình sinh hoạt và đời sống của người dân trong xã
3.3.2.5. Tình hình sử dụng lao động của xã
3.3.2.6. Thực trạng thi hành các chính sách lâm nghiệp
3.3.2.7. Thực trạng về thị trường
3.3.2.8. Tình hình khai thác sử dụng tài nguyên rừng

3.3.3. Đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên đất

3.3.3.1. Đất nông nghiệp
3.3.3.2. Đất phi nông nghiệp
3.3.3.3. Đất chưa sử dụng

3.3.4. Dự báo nhu cầu: Lương thực, sử dụng lâm sản và thị trường tiêu thụ lâm sản trong và ngoài địa phương

3.3.4.1. Nhu cầu lương thực
3.3.4.2. Nhu cầu sử dụng lâm sản

3.3.5. Hiện trạng đất trống đồi núi trọc (ĐTĐNT)

3.3.6. Ước tính vốn đầu tư, nguồn vốn để thực hiện sản xuất trong thời gian 10 năm

3.3.7. Tiến độ thực hiện phương án

3.3.8. Dự đoán hiệu quả sau khi thực hiện quy hoạch

3.3.8.1. Dự đoán hiệu quả kinh tế
3.3.8.2. Dự đoán hiệu quả môi trường
3.3.8.3. Dự đoán hiệu quả xã hội

3.3.9. Giải pháp về chính sách

3.3.10. Giải pháp về tổ chức quản lý

3.3.11. Giải pháp về vốn đầu tư

3.3.12. Giải pháp về khoa học công nghệ

3.3.13. Giải pháp về thị trường

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ

4.1. Về cơ sở lý luận

4.2. Về cơ sở thực tiễn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ BIỂU

Tóm tắt

I. Hướng dẫn toàn diện luận văn sử dụng đất đồi trọc Thải Giàng Phố

Nghiên cứu về luận văn sử dụng đất trống đồi trọc Thải Giàng Phố cung cấp một cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho việc khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai tại các vùng cao. Xã Thải Giàng Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, là một địa bàn điển hình cho những thách thức của miền núi phía Bắc. Với tổng diện tích tự nhiên 6.585 ha, diện tích đất chưa sử dụng lên tới 3.685,40 ha, chiếm 56%. Tình trạng này không chỉ gây lãng phí tài nguyên mà còn là nguyên nhân sâu xa của đói nghèo và suy thoái môi trường. Luận văn này tập trung vào việc tìm kiếm các giải pháp quản lý đất đai bền vững, kết hợp giữa kiến thức khoa học hiện đại và kinh nghiệm bản địa. Mục tiêu là đề xuất các phương án quy hoạch sử dụng đất khả thi, giúp cải tạo đất hoang hóa và biến những quả đồi trọc thành nguồn lực phát triển kinh tế đồi rừng. Việc nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường, ổn định sinh kế cho người dân tộc thiểu số và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. Luận văn được xây dựng trên nền tảng phân tích sâu sắc điều kiện tự nhiên xã Thải Giàng Phố và thực trạng kinh tế xã hội huyện Bắc Hà, từ đó đề ra những mô hình canh tác phù hợp. Đây là một tài liệu tham khảo giá trị cho sinh viên thực hiện khóa luận tốt nghiệp quản lý đất đai cũng như các nhà hoạch định chính sách tại địa phương.

1.1. Giới thiệu điều kiện tự nhiên đặc thù xã Thải Giàng Phố

Thải Giàng Phố là một xã vùng cao điển hình, cách trung tâm huyện Bắc Hà 4km về phía Đông. Đặc điểm địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao và khe suối sâu, tạo nên độ dốc lớn. Về thổ nhưỡng, đất đai chủ yếu là feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch, có tầng canh tác mỏng, dễ bị xói mòn đất khi mất lớp phủ thực vật. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới núi cao, phân mùa rõ rệt, lượng mưa lớn tập trung vào mùa hè là yếu tố chính gây ra lũ quét và rửa trôi. Các điều kiện tự nhiên xã Thải Giàng Phố tuy khắc nghiệt nhưng cũng tạo ra tiềm năng phát triển một số loại cây trồng đặc hữu có giá trị kinh tế cao, nếu có chiến lược quy hoạch sử dụng đất hợp lý và áp dụng các mô hình canh tác trên đất dốc tiên tiến.

1.2. Phân tích kinh tế xã hội và dân sinh tại huyện Bắc Hà

Toàn xã Thải Giàng Phố có 415 hộ với 2.290 nhân khẩu, bao gồm 4 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số. Trình độ dân trí thấp, đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều khó khăn. Hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp, với phương thức canh tác lạc hậu, phụ thuộc lớn vào tự nhiên. Cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi yếu kém, cản trở việc giao thương và áp dụng khoa học kỹ thuật. Các chính sách giao đất giao rừng của nhà nước đã được triển khai nhưng hiệu quả sử dụng đất chưa cao. Việc nghiên cứu thực trạng kinh tế xã hội huyện Bắc Hà và cụ thể tại Thải Giàng Phố là cơ sở quan trọng để xác định đúng nhu cầu và đề xuất các giải pháp sinh kế cho người dân tộc thiểu số một cách bền vững.

II. Top 3 thách thức trong việc sử dụng đất trống đồi trọc Thải Giàng Phố

Việc khai thác và sử dụng đất trống đồi trọc Thải Giàng Phố đối mặt với nhiều rào cản lớn, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ và khoa học. Thách thức lớn nhất đến từ chính tập quán canh tác lâu đời và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Canh tác nương rẫy du canh, phá rừng lấy đất sản xuất là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thoái hóa đất và suy giảm độ che phủ của rừng. Theo thống kê, hàng năm diện tích rừng bị mất do làm nương rẫy chiếm tới 50-60% tổng diện tích rừng bị mất. Vấn đề thứ hai là tình trạng xói mòn đất nghiêm trọng. Khi lớp thảm thực vật bị phá hủy, đất mặt dễ dàng bị rửa trôi theo nước mưa, làm mất đi lớp đất màu mỡ, khiến đất đai trở nên cằn cỗi và giảm năng suất cây trồng. Thách thức thứ ba là bài toán sinh kế cho người dân tộc thiểu số. Cuộc sống của họ phụ thuộc phần lớn vào rừng và đất rừng. Khi tài nguyên suy kiệt, người dân buộc phải tiếp tục khai thác sâu hơn vào rừng để đảm bảo cuộc sống trước mắt, tạo ra một vòng luẩn quẩn khó thoát. Việc thiếu các mô hình canh tác trên đất dốc hiệu quả, thiếu vốn và kiến thức kỹ thuật càng làm cho tình hình trở nên phức tạp. Giải quyết những thách thức này là tiền đề để tiến tới phủ xanh đất trống đồi trọcquản lý đất đai bền vững.

2.1. Tác động tiêu cực từ tập quán canh tác nương rẫy truyền thống

Canh tác nương rẫy là phương thức sản xuất truyền thống, gắn liền với văn hóa của đồng bào các dân tộc tại Thải Giàng Phố. Tuy nhiên, dưới áp lực gia tăng dân số, chu kỳ bỏ hóa đất bị rút ngắn, đất không đủ thời gian phục hồi. Việc phát, đốt, chọc, trỉa trên sườn dốc không chỉ làm mất đi thảm thực vật mà còn phá vỡ kết cấu đất, đẩy nhanh quá trình thoái hóa đất. Hệ quả là năng suất cây trồng ngày càng giảm, buộc người dân phải tìm kiếm những mảnh đất mới, tiếp tục phá rừng. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng diện tích đất trống đồi trọc, tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và gây khó khăn cho mục tiêu bảo vệ môi trường.

2.2. Vấn đề xói mòn và suy giảm độ phì nhiêu của đất

Địa hình dốc kết hợp với lượng mưa lớn và việc mất lớp phủ thực vật là điều kiện lý tưởng cho xói mòn đất diễn ra mạnh mẽ. Luận văn trích dẫn các nghiên cứu cho thấy, quá trình xói mòn không chỉ cuốn trôi lớp đất mặt giàu dinh dưỡng mà còn làm giảm khả năng giữ nước của đất, gây ra hạn hán cục bộ vào mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa. Tình trạng cải tạo đất hoang hóa trở nên vô cùng tốn kém và khó khăn khi đất đã bị suy thoái nặng. Đây là một trong những rào cản kỹ thuật lớn nhất cần vượt qua để có thể sử dụng đất trống đồi trọc Thải Giàng Phố một cách hiệu quả và bền vững.

III. Bí quyết quy hoạch sử dụng đất đồi trọc Thải Giàng Phố hiệu quả

Để giải quyết bài toán sử dụng đất trống đồi trọc Thải Giàng Phố, luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của một phương pháp tiếp cận toàn diện, trong đó quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân là yếu tố cốt lõi. Thay vì áp đặt các mô hình từ trên xuống, phương pháp này đề cao việc lắng nghe và phát huy tri thức bản địa. Công cụ chính được vận dụng là Phương pháp Đánh giá Nông thôn có sự tham gia (PRA - Participatory Rural Appraisal). Thông qua PRA, người dân địa phương trực tiếp tham gia vào quá trình xác định vấn đề, phân tích tiềm năng, lựa chọn cây trồng, vật nuôi và xây dựng kế hoạch hành động. Điều này đảm bảo các giải pháp đề ra phù hợp với điều kiện thực tế và được cộng đồng đồng thuận, tự giác thực hiện. Luận văn khẳng định, quản lý đất đai bền vững chỉ có thể đạt được khi người dân thực sự là chủ thể của quá trình. Bên cạnh đó, việc quy hoạch sử dụng đất phải dựa trên nền tảng pháp lý vững chắc, đặc biệt là các chính sách giao đất giao rừng, tạo hành lang pháp lý để người dân yên tâm đầu tư lâu dài trên mảnh đất của mình. Cách tiếp cận này giúp kết hợp hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế đồi rừng và yêu cầu bảo vệ môi trường, hướng tới một nền nông nghiệp sinh thái, bền vững.

3.1. Vận dụng phương pháp PRA trong quy hoạch sử dụng đất cấp xã

Phương pháp PRA được mô tả chi tiết trong luận văn như một công cụ hiệu quả để huy động sự tham gia của cộng đồng. Các kỹ thuật như lập bản đồ thôn bản, đi lát cắt, phân tích lịch mùa vụ, lập ma trận xếp hạng ưu tiên cây trồng... giúp cán bộ quy hoạch và người dân cùng nhau phân tích hiện trạng và tìm ra giải pháp. Việc người dân tự tay vẽ bản đồ sử dụng đất, tự đề xuất các mô hình canh tác trên đất dốc mà họ cho là phù hợp không chỉ làm tăng tính sở hữu của họ đối với kế hoạch mà còn đảm bảo tính khả thi cao khi triển khai. Đây là cách tiếp cận 'từ dưới lên' giúp việc sử dụng đất trống đồi trọc Thải Giàng Phố đi vào thực chất.

3.2. Vai trò của chính sách giao đất giao rừng và pháp lý liên quan

Một kế hoạch quy hoạch dù tốt đến đâu cũng sẽ thất bại nếu không có cơ chế chính sách hỗ trợ. Luận văn đã phân tích tầm quan trọng của Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cùng các nghị định liên quan, đặc biệt là chính sách giao đất giao rừng. Việc giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ gia đình giúp họ yên tâm đầu tư, áp dụng các biện pháp thâm canh, cải tạo đất hoang hóa. Chính sách rõ ràng, minh bạch là nền tảng để người dân mạnh dạn chuyển đổi từ canh tác quảng canh sang các mô hình nông lâm kết hợp, mang lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn và góp phần giảm nghèo bền vững.

IV. Top các mô hình phát triển kinh tế đồi rừng tại Thải Giàng Phố

Trên cơ sở phân tích điều kiện tự nhiên và sự tham gia của người dân, luận văn sử dụng đất trống đồi trọc Thải Giàng Phố đã đề xuất các mô hình kinh tế cụ thể, có tiềm năng thay đổi bộ mặt sản xuất tại địa phương. Các mô hình này được lựa chọn dựa trên tiêu chí kép: mang lại hiệu quả kinh tế trước mắt để cải thiện đời sống người dân và đảm bảo tính bền vững lâu dài cho môi trường. Nổi bật nhất là các mô hình canh tác trên đất dốc theo hướng nông lâm kết hợp. Đây là giải pháp tích hợp, kết hợp trồng cây nông nghiệp ngắn ngày xen kẽ với cây lâm nghiệp và cây ăn quả dài ngày. Cách làm này không chỉ đa dạng hóa sản phẩm, giảm rủi ro mà còn có tác dụng cải tạo đất, chống xói mòn hiệu quả. Mô hình thứ hai là tập trung phát triển các loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao như trồng cây dược liệu (ví dụ: đỗ trọng, quế) và các loại cây ăn quả ôn đới (lê, mận, đào). Các loại cây này phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của Bắc Hà, có khả năng trở thành sản phẩm hàng hóa chủ lực. Cuối cùng, luận văn cũng đề xuất phát triển chăn nuôi gia súc theo hướng bền vững, kết hợp trồng cỏ trên các băng đồng mức để vừa cung cấp thức ăn, vừa bảo vệ môi trường đất.

4.1. Mô hình nông lâm kết hợp Giải pháp then chốt để phủ xanh đồi trọc

Mô hình nông lâm kết hợp được xem là xương sống trong chiến lược phủ xanh đất trống đồi trọc. Cấu trúc của mô hình có thể bao gồm các dải cây lâm nghiệp (như Sa mộc, Tống quán sủ) trồng theo đường đồng mức để giữ đất, giữ nước. Xen giữa các dải cây này là diện tích trồng cây lương thực ngắn ngày (ngô, đậu tương) để đảm bảo an ninh lương thực. Ở những khu vực có điều kiện thuận lợi hơn, có thể trồng xen cây ăn quả. Sự kết hợp này tạo ra một hệ sinh thái đa tầng, tận dụng tối đa ánh sáng, không gian và dinh dưỡng, giúp cải tạo đất hoang hóa một cách tự nhiên và mang lại thu nhập đa dạng cho người dân.

4.2. Tiềm năng từ việc trồng cây dược liệu và cây ăn quả đặc sản

Thải Giàng Phố và Bắc Hà nói chung có lợi thế về khí hậu để phát triển các loại cây trồng giá trị cao. Luận văn phân tích, việc chuyển đổi một phần diện tích nương rẫy kém hiệu quả sang trồng cây dược liệu và cây ăn quả như mận tam hoa, lê là hướng đi đúng đắn để phát triển kinh tế đồi rừng. Các mô hình này đòi hỏi đầu tư ban đầu và kỹ thuật cao hơn, nhưng lợi nhuận mang lại vượt trội so với cây lương thực truyền thống. Để thành công, cần có sự liên kết với thị trường tiêu thụ và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm địa phương, biến tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh thực sự.

V. Dự báo hiệu quả khi sử dụng đất trống đồi trọc Thải Giàng Phố

Việc triển khai thành công các giải pháp và mô hình được đề xuất trong luận văn sử dụng đất trống đồi trọc Thải Giàng Phố hứa hẹn mang lại những tác động tích cực và toàn diện. Về mặt kinh tế, hiệu quả sử dụng đất sẽ được nâng cao rõ rệt. Thay vì để đất hoang hóa hoặc canh tác quảng canh năng suất thấp, các mô hình nông lâm kết hợp và trồng cây đặc sản sẽ tạo ra nguồn thu nhập ổn định và cao hơn cho các hộ gia đình. Điều này trực tiếp góp phần vào mục tiêu giảm nghèo bền vững. Về mặt xã hội, quá trình quy hoạch và triển khai có sự tham gia sẽ nâng cao năng lực và ý thức làm chủ của cộng đồng. Người dân được trang bị kiến thức, kỹ thuật canh tác mới, thay đổi tư duy sản xuất từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Sự thành công của các mô hình sẽ tạo ra động lực, củng cố niềm tin vào các chủ trương, chính sách của nhà nước. Về môi trường, đây là hiệu quả mang tính chiến lược và lâu dài nhất. Việc phủ xanh đất trống đồi trọc sẽ giúp phục hồi hệ sinh thái, tăng độ che phủ rừng, hạn chế xói mòn đất, điều hòa nguồn nước và bảo vệ môi trường sống. Đây là nền tảng cho sự phát triển bền vững không chỉ cho Thải Giàng Phố mà còn cho cả vùng.

5.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế và cải thiện sinh kế cho người dân

Luận văn sử dụng các chỉ số kinh tế như NPV (Giá trị hiện tại ròng), IRR (Tỷ suất hoàn vốn nội bộ) để phân tích và so sánh hiệu quả của các mô hình được đề xuất so với mô hình canh tác truyền thống. Kết quả dự báo cho thấy các mô hình nông lâm kết hợp và trồng cây ăn quả mang lại lợi nhuận cao hơn đáng kể. Việc đa dạng hóa sản phẩm giúp giảm rủi ro phụ thuộc vào một loại cây trồng, từ đó ổn định và nâng cao thu nhập, tạo ra một sinh kế cho người dân tộc thiểu số một cách bền vững và chắc chắn hơn.

5.2. Hiệu quả môi trường Phủ xanh đất trống và bảo vệ tài nguyên

Đây là lợi ích cốt lõi và lâu dài. Việc áp dụng các mô hình canh tác trên đất dốc có biện pháp bảo vệ đất như trồng cây theo đường đồng mức, tạo thảm phủ thực vật sẽ làm giảm đáng kể lượng đất bị rửa trôi. Tăng độ che phủ rừng không chỉ giúp bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học mà còn góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc quản lý đất đai bền vững sẽ trả lại màu xanh cho những quả đồi, bảo vệ nguồn nước và tài nguyên cho các thế hệ tương lai.

05/10/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất trống đồi núi trọc tại xã thải giàng phố huyện bắc hà tỉnh lào cai

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vấn đề nghiên cứu trên thế giới Rừng được coi là lá phổi xanh của nhân loại, mất rừng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho loài người chứ không chỉ riêng một dân tộc, một quốc gia nào. Trong những năm gần đây diện tích rừng ở Việt Nam cũng như tại các nước đang phát triển bị suy giảm nhanh chóng.

Theo tài liệu của Đại hội Lâm nghiệp diễn ra vào tháng 10 năm 1997 tại Thổ Nhĩ Kỳ, tổ chức Nông lương thế giới FAO đã thống kê được sự suy giảm diện tích rừng trong những năm vừa qua là hết sức nghiêm trọng. Theo thống kê, trong giai đoạn 1990 - 1995, khi Châu Âu và khu vực Bắc Mỹ trồng được 8,50 triệu ha rừng, thì các châu lục khác bị mất đến 64,90 triệu ha rừng. Diện tích rừng, độ che phủ rừng, tỷ lệ mất rừng hàng năm trên thế giới, Đông Nam Á và Việt Nam được thể hiện tại bảng 1. Thống kê một số vấn đề về tài nguyên rừng trên thế giới Thế Đông Nam Việt Stt Chỉ tiêu Đơn vị giới Á Nam 1 Diện tích rừng Triệu (Ha) 3.454,4 202,6 12,28 2 Độ che phủ % 27 47 36,7 3 Theo đầu người Ha/người 0,6 0,42 0,14 4 Tỷ lệ mất rừng hàng năm % 0,3 1,4 1,4 Các chỉ tiêu cho thấy tỷ lệ che phủ của rừng ở Việt Nam lớn hơn so với tỷ lệ che phủ rừng trung bình của thế giới, nhưng trên thực tế diện tích rừng tính theo đầu người thì Việt Nam nằm ở dưới mức trung bình (0,14 ha) so với Đông Nam Á (0,42 ha) và bằng 1/4 so với thế giới (0,6 ha).

Nguyên nhân của tình trạng suy giảm diện tích rừng có nhiều nhưng chủ yếu do sự thay đổi thời tiết bất thường trên toàn cầu cũng như tại mỗi khu vực và nguyên nhân trực tiếp vẫn là tình trạng phá rừng để phát triển sản xuất nông nghiệp theo phương thức quảng canh của các cộng đồng dân cư tại các nước đang phát triển mà điển hình là hình thức canh tác nương rẫy, trong đó có Việt Nam. Như vậy, sự đói nghèo và tình trạng phá rừng diễn ra song hành với nhau như “hai chân đi về một hướng”. Hiện nay, các nhà khoa học ước tính có khoảng từ 250 đến 300 triệu người trên thế giới đang sống bằng hình thức canh tác nương rẫy và tác động đến gần một nửa diện tích đất của vùng nhiệt đới. Trong đó, riêng 4 vùng Châu Á Thái Bình Dương đã có hơn 30 triệu người sống phụ thuộc vào hệ canh tác nương rẫy trên diện tích khoảng 75 triệu ha (Srivastava, 1986).

Canh tác nương rẫy là một dạng sử dụng đất, có lịch sử lâu đời và tỏ ra phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng nhiệt đới. Trong hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống chỉ có từ 5% đến 10% diện tích đất được sử dụng theo đúng nghĩa, còn lại bị bỏ hoang hoá để tự phục hồi gọi là thời kỳ hưu canh (Fallow). Canh tác nương rẫy xét về một góc độ nào đó thì có thể coi là một phương thức sử dụng đất bền vững trong điều kiện mật độ dân số thưa như ở Borneo hoặc như ở bán đảo Malaysia (Abdul và Faizah, 1988). Tại miền trung Ấn Độ, 17,52% diện tích của bang Orissa bao gồm khoảng một triệu người vẫn đang duy trì hình thức canh tác nương rẫy, hình thức canh tác này là phương tiện sống duy nhất của một bộ phận dân cư đang sống, bởi sức ép dân số và không có diện tích đất thích hợp để canh tác nông nghiệp bền vững (UNESCO,1979).

Ở Indonexia một bộ phận lớn dân số đang canh tác nương rẫy ở các vùng có mật độ dân số thưa ngoài đảo Java và Bali, hậu quả của hình thức canh tác này là đã để lại một thảm cỏ tranh 16 triệu ha và hàng năm diện tích này tăng thêm 150 nghìn ha. Chính phủ Indonexia đã có chính sách cải tạo diện tích đất bị thoái hoá bằng các chương trình di dân và nông nghiệp thâm canh. Tại bang Sarawak miền Đông Malaysia, canh tác nương rẫy được diễn ra rất phổ biến tại các triền núi thuộc vùng nhiệt đới, năm 1976 có khoảng 50 nghìn hộ trực tiếp canh tác nương rẫy, người ta ước tính có khoảng 2,8 triệu ha đất đang hoặc đã qua canh tác nương rẫy, hàng năm có khoảng 30 nghìn ha rừng nguyên sinh bị chặt hạ để làm nương rẫy, vì vậy vô hình đã biến những diện tích rừng nguyên sinh thành những vùng đất trống đồi núi trọc chỉ sau một vài chu kỳ canh tác. Chính phủ Malaysia đã có nhiều cố gắng khuyến khích người dân xanh hoá những diện tích này nhằm phát triển kinh tế cũng như cải tạo môi trường sinh thái bằng cách trồng cây công nghiệp nhiệt đới, như: Cà phê, Cao su, Hồ tiêu và các loại cây ăn quả khác.

Tại Philippin có khoảng 120 nghìn hộ gia đình trực tiếp tham gia hoạt động nương rẫy, hàng năm có đến 172 nghìn ha rừng bị tàn phá thì có đến 80 nghìn ha bị quy cho là do canh tác nương rẫy. Hoạt động nương rẫy không chỉ giới hạn ở các tộc người vùng cao mà còn có những người nông dân nghèo vùng thấp thiếu đất canh tác hay dân nghèo thành thị tham gia. 5 Như vậy, canh tác nương rẫy không phải là phương thức canh tác dành riêng cho các tộc người lạc hậu, bởi vì hình thức canh tác này còn được thực hiện ở các nước như SriLanka, Hàn Quốc v.Tại vùng núi phía bắc của Hàn Quốc, những người chạy chốn lên núi vì chính trị hay tôn giáo cũng thực hiện canh tác nương rẫy du canh. Người ta chia canh tác nương rẫy ra làm hai dạng, đó là canh tác nương rẫy cục bộ (Partial Swidden) là dạng canh tác chỉ liên quan đến mục đích kinh tế của người thực hiện (người từ nơi khác đến làm nương rẫy để sản xuất cây hàng hoá và làm kinh tế), dạng canh tác nương rẫy truyền thống (Integral Swidden) là phương thức canh tác đã trở thànhg phong tục tập quán của người dân địa phương.

Canh tác nương rẫy đã gây ra tình trạng xói mòn, thoái hoá đất do vậy để phục hồi lại những vùng đất bị xói mòn, thoái hoá, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu, những công trình nghiên cứu điển hình về tình trạng xói mòn đất đã được thực hiện, như: Công trình nghiên cứu về xói mòn được nhà bác học Volni tiến hành vào năm 1870; Hudson, 1981; ông đã sử dụng một hệ thống ô thí nghiệm để nghiên cứu hàng loạt các nhân tố liên quan đến xói mòn đất, như loại đất, độ dốc, thực bì, lớp phủ bề mặt, kỹ thuật canh tác vv. Tiếp sau công trình của Volni, những nghiên cứu về xói mòn được thực hiện ngày một nhiều ở Liên Xô cũ, Mỹ và một số nước phát triển khác. Trong thời gian gần đây với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, những nghiên cứu nhằm phục hồi, phát triển đất trống đồi núi trọc đã và đang được thực hiện tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam Trong những năm gần đây, tình hình phát triển Lâm nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta có nhiều chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì quá trình phát triển vẫn còn tương đối chậm, diện tích đất trống đồi núi trọc, đất không được sử dụng có hiệu quả và hợp lý vẫn không ngừng đã gia tăng. Trong những năm qua, các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý có những công trình nghiên cứu và đưa ra các chính sách để phục hồi phát triển và đưa những diện tích đất trống đồi núi trọc vào sản xuất nhằm phát triển kinh tế cũng như giải quyết vấn đề nông thôn miền núi. Điểm qua những công trình nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Đình Huấn, (1988); Trần Thị Quế, (1989); Trần Thanh Bình (1997) [2]; Phùng Ngọc Lan (1994); Bùi Minh Vũ (1994); Nguyễn Xuân Quát (1994) [17]; Vũ Văn Mễ (1994); Nguyễn Cát Giao (1994); Lê Xuân Lịch 6 (1996); Chu Hữu Quý (1996); Lê Văn Khoa; Trần Thị Lành (1997); Vũ Văn Tuấn; Trần Thị Vân Anh (1997); Trần An Phong (1998); vv… Các công trình nghiên cứu bảo vệ đất đầu tiên được tiến hành từ những thập kỷ 60 của thế kỷ XX, những cơ quan nghiên cứu khoa học tham gia trong lĩnh vực này bao gồm: Viện Nông hoá thổ nhưỡng, trường Đại học Nông nghiệp, trường Đại học Tổng hợp, Đại học Lâm nghiệp, Đại học Sư phạm Hà Nội và một số trung tâm nghiên cứu khác gồm những nhà khoa học có chuyên môn: Đào Khương; Vũ Hữu Giao (1970); Nguyễn Quang Mỹ (1990); Lê Văn Lanh (1991); Bùi Quang Toản (1996) [21]; Thái Phiên; Nguyễn Tử Siêm (1992); Huỳnh Đức Nhân (1993); Vương Văn Quỳnh (1994); Vi Văn Viện; Lâm Quế Như (1994) tham gia nghiên cứu. Tuy nhiên trong giai đoạn đó, đất nước còn gặp nhiều khó khăn, công tác nghiên cứu bảo vệ đất trong các hệ canh tác đòi hỏi kinh phí lớn, phương tiện hiện đại.

Do đó kết quả mang lại không được như sự mong đợi của xã hội. Ở Việt Nam, trong tổng số 54 dân tộc, theo số liệu thống kê năm 1989, tổng số người tham gia vào hoạt động canh tác nương rẫy là 2,9 triệu người tương đương với 500.000 hộ gia đình, diện tích đất canh tác nương rẫy là 3,5 triệu ha, phân bố chủ yếu ở các vùng núi Duyên Hải miền Trung, vùng núi Bắc bộ và Tây Nguyên (Đỗ Đình Sâm, 1994). Trong giai đoạn 1991-1995 hàng năm có hơn 46 nghìn ha rừng bị mất, trong đó 63,4% là rừng sản xuất, rừng phòng hộ 35% và 1,6% là rừng đặc dụng (Nguyễn Huy Phồn - Phạm Đức Lân, 1998). Trên địa bàn Tây Nguyên, năm 1972 trung tâm lâm nghiệp nhiệt đới và nhóm nghiên cứu Lâm nghiệp xã hội thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành điều tra nông thôn nhằm thu thập thông tin cơ bản để phục vụ xây dựng Dự án phát triển lâm, nông, công nghiệp và định canh định cư theo chương trình 327 tại xã Sơpai huyện Kbang.

Kết quả điều tra cho thấy thực trạng đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc BaNa ở đây còn gặp rất nhiều khó khăn, cuộc sống của họ phụ thuộc hoàn toàn vào nương rẫy. Kết quả nghiên cứu được thể hiện qua một số vấn đề: - Việc sử dụng đất theo hướng phá rừng làm nương rẫy còn phổ biến, đây là hình thức sử dụng đất hết sức lãng phí, tác động tiêu cực đến tài nguyên môi trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ