ĐẶT VẤN ĐỀ Khu bảo tồn Cervus Eldii (KBTCE) có diện tích 140.810 ha, trải rộng trên 5 huyện trong tỉnh Savannakhet, miền Nam nƣớc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Khu bảo tồn đƣợc thành lập vào năm 2004 với mục đích ban đầu, nhằm duy trì, bảo tồn và phát triển loài Nai Cà Tông do tỉnh Savannakhet kết hợp với Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã Thế giới thành lập. KBTCE đƣợc đánh giá là khu bảo tồn rất đa dạng về thành phần loài động, thực vật sinh. Chúng sinh sống trên 2 kiểu rừng chính đƣợc phân loại theo loài cây gồm: (i).
Rừng lá rộng rụng lá, chiếm tỷ lệ 48% tổng diện tích khu bảo tồn; (ii). Rừng lá rộng nửa rụng lá, chiếm tỷ lệ 25% và 2 kiểu rừng đƣợc phân theo điều kiện lập địa gồm: (iii). Rừng núi đất thấp kết hợp gieo trồng lúa nƣơng, chiếm tỷ lệ 12%; (iv). Rừng ngập nƣớc ngọt định kỳ, chiếm tỷ lệ 8%.
Ngoài ra, khu bảo tồn còn có một số loại đất nhƣ: (v). Đất trống, chiếm tỷ lệ 5% và Đất thổ cƣ, làng bản, chiếm tỷ lệ 2% (Cục Lâm nghiệp - Bộ Nông Lâm Lào, 2018 [13]). Trải qua năm tháng, đến nay, không những diện tích các kiểu rừng đã thay đổi mà còn co sự thay đổi về đa dạng thành phần, số lƣợng loài động, thực vật, dẫn đến một số loài đã và đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng. Trƣớc thực trạng đó, KBTCE đã thay đổi mục tiêu ban đầu: không những bảo tồn loài Nai Cà Tông mà cần bảo tồn, duy trì, phát triển ổn định, bền vững tài nguyên rừng trong khu vực, đáp ứng tốt nhất sinh cảnh sống tự nhiên cho các cá thể Nai Cà Tông còn lại.
Họ Dầu (Dipterocarpaceae) một trong số các họ đặc trƣng nhất khu bảo tồn, một số loài trong họ có chiều cao, đƣờng kính lớn trên các kiểu rừng trong khu bảo tồn. Đặt biệt họ Dầu trong khu bảo tồn rất đa dạng về thành phần loài, phân bố rộng mà các nhà khoa học, nhà quản lý gọi là kiểu Rừng cây lá rộng rụng lá cho Khu bảo tồn Curvus Eldii (Phiapalath, (2018)). Hiện nay, nguồn gỗ đƣợc cung cấp từ các loài cây trong họ Dầu chi phối thị trƣờng tại khu vực là chủ yếu và nó đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh 2 tế xã hội không những cho địa phƣơng và cho cả quốc gia Lào. Hơn thế nữa, trong kiểu rừng này còn cung cấp các nguồn lâm sản ngoài gỗ, tạo sinh kế cho ngƣời dân sống phục thuộc vào khu rừng.
Mặc dù họ Dầu đóng góp một vị trí quan trọng trên các kiểu rừng trong khu bảo tồn, nhƣng chúng chƣa đƣợc nghiên cứu một cách đúng mức trên các mặt: (i). Chưa xác định được số lượng, thành phần loài trong họ; (ii). Chưa xác định được đặc điểm phân bố, sinh thái học, tái sinh, mật độ cũng như khả năng phục hồi, phát triển của loài trong họ Dầu hiện có và (iii). Chưa xác định được số lượng loài quý, hiếm, nguy cấp cần bảo tồn, v.
Nên chƣa thể đề ra các giải pháp phù hợp nhằm phục hồi, bảo tồn và phát triển bền vững các loài cây trong họ Dầu, từ đó góp phần vào công cuộc bảo tồn sinh cảnh số cho loài Nai đang đƣợc cả thế giới quan tâm hiện nay. Để góp phần giải đáp vấn đề nêu trên, tôi tiến hành đề tài luận văn “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố, cấu trúc rừng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn Cervus Eldii, tỉnh Savanakhet, Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” đã đƣợc thực hiện. Đề tài đƣợc nghiên cứu là rất cần thiết và có ý nghĩa lỹ luận và thực tiễn cao. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Đặc điểm và phân bố họ Dầu (Dipterocarpaceae) Họ Dầu thuộc Bộ Bông (Malvales) theo quan điểm phân loại APG (Angiosperm Phylogeny groups) III và quan điểm của Takhtajan, Armen Leonovich (2016) [19] họ Dầu nằm trong lớp hai lá mầm (Magnoliopsida), bao gồm khoảng 600 loài, thuộc 16 chi phân bố rộng rãi trên toàn thế giới nhƣng tập trung nhiều nhất ở các vùng nhiệt đới và đặc biệt là khu vực Đông Nam Á trong đó có Lào và Việt Nam. Theo Peter Shaw Ashton (2005) [16], cây họ Dầu tập trung ở vùng khí hậu nhiệt đới với lƣợng mƣa bình quân lớn hơn 1000 mm và mùa mƣa dƣới 6 tháng, các loài không phân bố trên độ cao quá 1000 mét so với mực nƣớc biển. Họ Dầu chia làm 3 họ phụ: + Dipterocarpoideae là phân họ lớn nhất gồm 13 chi và 475 loài, phân bố ở vùng Châu Á nhiệt đới. + Monotoideae có 3 chi và 30 loài, phân bố ở vùng châu Phi và Madagasca.
+ Pakaraimoideae chỉ có một chi và một loài, phân bố ở vùng Nam Mỹ. - Ở Châu Á, họ Dầu tập trung chủ yếu ở vùng rừng nhiệt đới ẩm nhƣ Malaysia, gồm các chi: Anisoptera, Balanocarpus, Cotylelobium, Dipterocarpus, Hopea, Parashorea, Shorea, Stemonoporus, Upuna, Vateria, Vateriopsis, Vatica, trong đó, chi lớn nhất là Shorea (196 loài), Hopea (105 loài), Dipterocarpus (70 loài) và Vatica (65 loài). Ở khu vực châu Phi và Madagasca với 2 chi Marquesia và Monotes, ở khu vực Nam Mỹ với chi đặc trƣng là Pakaraimaea (Guyana). - Họ Dầu (Dipterocarpaceae), gồm những cây gỗ lớn, thƣờng xanh hoặc bán thƣờng xanh, rụng lá vào mùa khô, thân thẳng, lá đơn, nguyên mọc xen, phiến lá với gân lá có hình mạng lông chim, mép lá nguyên hoặc có 4 khía, cuống có gối, lá bẹ bao lấy chồi, lá kèm không rụng hoặc rụng sớm.
Hoa lƣỡng tính, mẫu 5, đối xứng, chùm tụ tán, cánh hoa màu trắng đến, đính bên hoặc đính liền với đế, nhiều nhị đực mang trung đới kéo dài, nhị rời hay đính với cánh hoa, bầu trên thƣờng có 3 ô. Trái có lá đài trƣởng thành 2, 3 hoặc 5 cánh lớn, hạt không có phôi nhũ, rễ mầm hƣớng về phía rốn hạt. Gỗ của các loài họ Dầu có sự biến đổi về màu sắc, tỷ trọng và cƣờng độ phù hợp với cấu trúc của chúng. Gỗ từ màu vàng nhạt đến nâu đỏ, tỷ trọng gỗ cũng khác nhau từ 40 pounds/m3 (tƣơng đƣơng 640 kg/m3) đến 60 pounds/m3 (tƣơng đƣơng 960 kg/m3).
Một đặc điểm cơ bản của gỗ cây họ Dầu là sự có mặt các ống nhựa xếp thẳng đứng, khi cắt ngang các ống nhựa này là những điểm màu trắng nằm rải rác, hoặc nằm song song với nhau. Tại Việt Nam, họ Dầu (Dipterocarpaceae) có khoảng 40 loài thuộc 6 chi, phân bố rộng rãi từ Bắc tới Nam. Họ Dầu nổi tiếng bởi nhiều loài cho gỗ lớn có giá trị kinh tế cao nhƣ: Dầu song nàng, Dầu rái, Dầu trà beng, Sao đen, Vên vên, Táu mật, Chò chỉ… cùng với giá trị làm gỗ thì nhiều loài trong họ Dầu cho nhựa dầu. Bên cạnh giá trị kinh tế thì họ Dầu cũng là một trong ít họ có giá trị bảo tồn cao với nhiều loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Danh Lục Đỏ thế giới IUCN (2017) [17].
Nghiên cứu về thực vật họ Dầu trên thế giới và ở Việt Nam Họ Dầu (Dipterocarpaceae) , họ thực vật nổi tiếng thế giới và đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Trên thế giới và ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thực vật họ Dầu. Các công trình nghiên cứu nổi tiếng về họ Dầu nhƣ Peter Shaw Ashton (2005) [16], Maury - Lechon & Curter (1998) [15]. Theo hệ thống phân loại của Takhtajan Takhtajan (1973), (1997), (2009) [19], họ Dầu (Dipterocarpaceae) thuộc Bộ Chè (Theales).
Họ Dầu đƣợc xếp cùng bộ với các họ khác ở Việt Nam nhƣ họ Chè (Theaceae), họ Măng cụt (Clusiaceae), họ Ban (Hypericaceae). Hệ thống phân loại mới nhất của 5 Takhtajan, Armen Leonovich (2016) [19], quan điểm phân loại theo hệ thống sinh APG II, APG thì họ Dầu đƣợc xếp vào bộ Bông (Malvales) do có nhiều đặc điểm giống họ Bông (Malvaceae), họ Đay (Tiliaceae) và họ Trôm (Sterculiaceae). Về hệ thống phân loại, một số công trình nghiên cứu về phân loại họ Dầu nhƣ Maury -Lechon & Curter, 1998 [15], Peter Shaw Ashton, 2005 [16], Takhtajan 1973, 1997, 2009 [19], đều thống nhất phân chia họ Dầu thành 3 họ phụ là: + Dipteroparpoideae với 13 chi và khoảng 470 loài, phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á. Các chi lớn trong họ phụ này là: Shorea 194 loài, Hopea 102 loài, Dipterocarpus 69 loài và Vatica 65 loài.
+ Họ Phụ thứ hai là Monotoideae gồm 3 chi và 34 loài phân bố chủ yếu ở Châu Phi và 1 loài ở Nam Mỹ (Pseudomonotes tropinbossii). + Họ phụ thứ ba là Pakaraimaeoideae gồm 1 loài duy nhất là Pakaraimaea dipterocarpa đƣợc ghi nhận ở Nam Mỹ. Một số nghiên cứu về từng lĩnh vực của họ Dầu nhƣ Woon và Keng (1979) nghiên cứu về hình thái Nhị của 42 loài thuộc 13 chi họ Dầu tại Châu Á, hay công trình của Whitmore (1962), (1963) nghiên cứu về hình thái vỏ của 130 loài trong họ Dầu. Tài nguyên rừng ở Việt Nam đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, trong đó, nạn khai thác gỗ trái phép mà những loài trong họ Dầu là một trong những đối tƣợng chính.
Hoàng Văn Sâm (2009) [11], Nghiên cứu hệ thống phân loại và bảo tồn các loài cây thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) tại Việt Nam”. Tác giả đã làm rõ tính đa dạng thành phần loài, chi trong họ Dầu tại Việt Nam. Nghiên cứu hệ thống phân loại theo quan điểm mới của quốc tế. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã tiến hành điều tra và phát hiện các loài mới, nghiên cứu sự phân bố, giá trị sử dụng và tình trạng bảo tồn các loài trong họ Dầu có 6 tại Việt Nam.
Đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu bao gồm thông tin, mô tả, hình ảnh và thu thập hệ thống mẫu tiêu bản để phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu, bảo tồn và phát triển. Phạm Hoàng Hộ (2000) [7], Nghiên cứu “Cây cỏ Việt Nam” của , tác giả đã thống kê, mô tả tổng số 40 loài thuộc 6 chi trong họ Dầu có phân bố tại Việt Nam. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) [10], trong công trình nghiên cứu về họ Dầu Việt Nam lại cho rằng Việt Nam có 38 loài và 02 loài phụ thuộc 06 chi. Trần Hợp (2000) [8], trong Danh lục thực vật Việt Nam thì tác giả đã thống kê đƣợc họ Dầu tại Việt Nam có 42 loài thuộc 6 chi.
Trần Ngọc Hải, Nguyễn Văn Trung, Trần Ngọc Việt Anh (2018) [5], nghiên cứu về thực vật họ Dầu Vƣờn Quốc Gia Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang: Các loài thực vật họ Dầu Vƣờn Quốc Gia Phú Quốc đã nghi nhận đƣợc 19 loài, chiếm 1,46% số loài tại VQGPQ, thuộc 5 chi, trong đó: Chi Vên vên có 1 loài, chi Dầu có 5 loài, chi Sao có 5 loài, chi Chò có 5 loài và chi Táu có 3 loài.