CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 1. Những vấn đề chung về quyết định hành chính 1.1 Khái niệm, đặc điểm quyết định hành chính Trong khoa học pháp lý, khái niệm QĐHC được xây dựng dựa trên bản chất của khái niệm quyết định ở các phương diện nghiên cứu khác nhau. Có thể hiểu, quyết định là lựa chọn một cách thức tối ưu nhất trong nhiều cách thức để giải quyết một vấn đề đặt ra.
Theo Viện Nghiên cứu hành chính (2000), Một số thuật ngữ hành chính, Nxb Thế Giới: “Quyết định là hành vi thể hiện ý chí của chủ thể ra quyết định, ý chí đó được định ra và thể hiện dưới một hình thức nhất định, có tính bắt buộc đối với đối tượng phải thi hành nhằm đạt được mục đích mà chủ thể đó mong muốn”. Khoa học quản lý cho rằng, quyết định còn là những hành vi sáng tạo của chủ thể quản lý để định ra mục tiêu, chương trình và tính chất hoạt động của tổ chức nhằm giải quyết một vấn đề trên cơ sở quy luật khách quan. Xét trên góc độ QLNN, quyết định là hình thức văn bản pháp luật bao gồm cả văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) và văn bản áp dụng pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành. Trên cơ sở đó, Từ điển giải thích từ ngữ luật học (1999), Nxb Công an nhân dân cho rằng: “QĐHC là kết quả của sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những người có chức vụ, các tổ chức và cá nhân được Nhà nước trao quyền, thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật, theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định hướng tới việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính trong lĩnh vực hoặc vấn đề được phân công phụ trách”.
[6] Khoa học pháp luật hành chính ở Việt Nam cũng thống nhất thừa nhận rằng QĐHC là một dạng của quyết định pháp luật; là kết quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước do các chủ thể có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục nhất định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ trên cơ sở quy định của pháp luật. Khoa luật Trường Đại học Khoa học - xã hội và nhân văn (1994), Giáo trình Luật Hành chính khẳng định: “Quyết định được bắt nguồn từ thuật ngữ La tinh Actus - hành động. Các tài liệu pháp lý nước ngoài khi viết về quyết định cũng xuất phát của từ Actus nhằm chỉ những hành vi cụ thể, vì thế trong khoa học pháp lý, quyết định là tạo ra hiệu lực pháp luật, chính là quyết định pháp luật. QĐHC là một dạng của quyết định pháp 8 luật”.
[4] Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: “QĐHC là một dạng của quyết định pháp luật, là kết quả sự thể hiện ý chí quyền lực của nhà nước thông qua những hành vi của các chủ thể được thực hiện quyền hành pháp trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước tiến hành theo một trình tự dưới những hình thức nhất định theo quy định của pháp luật, nhằm đưa ra những chủ trương, biện pháp, đặt ra các quy tắc xử sự hoặc áp dụng những quy tắc đó giải quyết một công việc cụ thể trong đời sống nhằm thực hiện chức năng QLNN”. [14] Dưới góc độ pháp lý, so với quan điểm khoa học, QĐHC ở Việt Nam được xác định trong phạm vi hẹp hơn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, QĐHC là kết quả của hoạt động quản lý hành chính khi giải quyết một vấn đề cụ thể. Tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “QĐHC là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.
[10] Khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “QĐHC là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”. [8] Mặc dù có sự khác nhau về phạm vi chủ thể ban hành, nội dung và tính chất pháp lý của QĐHC trong cách tiếp cận khoa học và pháp lý, tuy nhiên các đặc điểm của QĐHC có thể được nhận diện cụ thể như sau: Thứ nhất, QĐHC là kết quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trong công tác quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể quản lý ban hành QĐHC hoặc thực hiện hành vi hành chính để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định pháp luật. Thứ hai, QĐHC có tính pháp lý.
Đặc điểm này gắn liền với một hệ quả pháp lý nhất định nhằm xác định quyền, nghĩa vụ của đối tượng quản lý; đồng thời có hiệu lực bắt buộc thi hành. QĐHC với các chủ trương, đường lối có tính chất định hướng có thể làm thay đổi QPPL hành chính; xây dựng mục tiêu chiến lược và xác định nhiệm vụ lớn cho hoạt động quản lý hành chính; đặt ra, đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ các QPPL hành 9 chính; làm phát sinh thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể. Thứ ba, QĐHC có tính dưới luật. QĐHC được xây dựng, ban hành căn cứ vào văn bản luật để thực thi và không được trái với các văn bản luật.
Thứ tư, QĐHC có mục đích, nội dung đa dạng, phong phú. Điều này cũng được thể hiện trong sự đa dạng, phong phú về tên gọi của QĐHC, có thể được thể hiện dưới các hình thức như quyết định cho phép (giấy phép, quyết định công nhận.), quyết định chấp thuận (văn bản phê duyệt chủ trương đầu tư). Thứ năm, QĐHC được ban hành theo hình thức và trình tự, thủ tục nhất định. QĐHC phải tuân thủ về hình thức thể hiện ở tên loại văn bản, thể thức, cấu trúc và văn phong hành chính theo quy định.
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, khái niệm, đặc điểm của QĐHC, đề tài nghiên cứu QĐHC ở góc độ tiếp cận như sau: QĐHC là kết quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, do các chủ thể thực hiện thẩm quyền hành pháp, thẩm quyền hành chính ban hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Phân loại quyết định hành chính Việc phân loại QĐHC giúp cho việc nghiên cứu, ban hành, tổ chức thực hiện QĐHC đạt được hiệu lực và hiệu quả trong xã hội. Khi phân loại QĐHC cần căn cứ các tiêu chí cơ bản như: Tính chất pháp lý; chủ thể ban hành; trình tự ban hành; hình thức; nội dung cụ thể theo quy định của ngành và lĩnh vực quản lý; phạm vi tác động. Thứ nhất, theo tiêu chí chủ thể ban hành, QĐHC gồm có nghị quyết, nghị định của Chính phủ; các quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; các quyết định, thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; các quyết định, chỉ thị, quy chế, công văn của UBND các cấp; các quyết định, chỉ thị chủ tịch Chủ tịch UBND các cấp, riêng cấp xã không có thẩm quyền ban hành chỉ thị; các quyết định, kế hoạch, văn bản khác của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện.
Thứ hai, căn cứ vào thời gian có hiệu lực của quyết định: Các văn bản có tính chất quyết định có hiệu lực được áp dụng lâu dài cho đến khi có văn bản khác thay thế; các văn bản có tính chất quyết định có hiệu lực trong một thời gian nhất định - là những văn bản có ghi rõ thời hạn hiệu lực, tùy thuộc vào thời hạn giải quyết vấn đề; các văn bản có hiệu lực một lần chỉ giải quyết những nhiệm vụ cụ thể. Thứ ba, căn cứ theo lĩnh vực quản lý: Quyết định quản lý hành chính nhà nước 10 (QĐQLHCNN) về lĩnh vực kinh tế; văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục; tài nguyên, môi trường; an ninh, quốc phòng; quy chế dân chủ cơ sở; cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; chính sách, chế độ; hộ tịch. Thứ tư, căn cứ vào tính chất và nội dung của quyết định, đây là cách phân loại cơ bản nhất, có tính thực tiễn nhất: Quyết định chủ đạo đề ra các chính sách, mục tiêu, nhiệm vụ lớn mang tính chất chung. Làm cơ sở cho việc ban hành các quyết định quy phạm và là công cụ định hướng trong thực hiện lãnh đạo của hệ thống hành chính nhà nước.
Quyết định quy phạm là quyết định mang QPPL, đây là căn cứ pháp luật khi ban hành các QĐHC cá biệt. quyết định quy phạm trực tiếp làm thay đổi hệ thống QPPL hành chính. Quyết định cá biệt là loại quyết định được các cơ quan quản lý nhà nước ban hành dựa trên các quy định pháp luật hoặc quyết định của cấp trên để giải quyết một vấn đề cụ thể trong quản lý hành chính. Khi ban hành quyết định cá biệt, nó sẽ tạo ra, thay đổi hoặc chấm dứt các mối quan hệ pháp lý cụ thể; đồng thời mang tính chất đơn phương và yêu cầu phải thực hiện ngay lập tức.
Yêu cầu đối với quyết định hành chính Để tổ chức thực hiện QĐHC có hiệu quả, khi ban hành QĐHC các nhà khoa học đa phần thừa nhận những yêu cầu chung khi ban hành QĐHC, đó là yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC, các yêu cầu đối với QĐHC được xác định như sau: 1. Tính hợp pháp Yêu cầu này xuất phát từ đặc điểm của QĐHC phải có tính pháp lý. Khi xem xét tính hợp pháp cần xem xét dưới hai góc độ. Đó là, hợp pháp về nội dung và hợp pháp về hình thức trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu: Một là, QĐHC nhà nước phải phù hợp với nội dung và mục đích của luật.
Yêu cầu này đòi hỏi không được trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, bao gồm các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết. Hai là, QĐHC nhà nước ban hành phải đúng thẩm quyền. Tức là, phải tuân thủ quy định pháp luật liên quan đến thẩm quyền ban hành của chủ thể, đúng thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung.