Nghiên cứu quy luật sinh trưởng rừng bần chua (Sonneratia caseolaris) tại Thái Thụy

Luận văn phân tích chi tiết quy luật sinh trưởng của rừng bần chua tại Thái Thụy, Thái Bình, cung cấp số liệu và phương trình khoa học quan trọng.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Lâm học

2020

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về rừng bần chua tại Thái Bình

Rừng bần chua (Sonneratia caseolaris L.) là một loài cây trồng quan trọng trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tại tỉnh Thái Bình, đặc biệt ở huyện Thái Thụy. Loài cây này có khả năng thích ứng tốt với điều kiện đất ngập mặn và nước mặn, mang lại nhiều giá trị kinh tế và sinh thái. Luận văn quy luật sinh trưởng rừng bần chua được thực hiện nhằm hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của loài cây này. Nghiên cứu này cung cấp dữ liệu quan trọng cho việc quản lý và phát triển bền vững rừng trồng bần chua, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái khu vực đồng bằng sông Hồng.

1.1. Đặc điểm hình thái và sinh thái của cây bần chua

Cây bần chua có chiều cao vút ngọn từ 10-15m, với đường kính thân cây đạt 30-40cm. Loài cây này sở hữu hệ rễ hở đặc biệt để hô hấp và cân bằng dưỡng chất trong đất ngập mặn. Cây có khả năng chống chịu cao với độ mặn nước lên đến 30 ppt, phù hợp với điều kiện vùng ven biển Thái Bình. Bần chua thích ứng tốt với thổ nhưỡng có thành phần bùn và silt, đòi hỏi độ ẩm cao và nước cung cấp thường xuyên.

1.2. Ý nghĩa kinh tế và sinh thái

Rừng bần chua tại Thái Bình cung cấp gỗ xây dựng, củi đốt và các sản phẩm phụ có giá trị. Ngoài ra, loài cây này đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ bờ biển chống sạt lở và cường gió. Rừng bần chua là nơi sinh sống của hệ động vật đa dạng, bao gồm cua, tôm và các loài chim quý hiếm, tạo ra giá trị sinh thái không thể định giá bằng tiền tệ.

II. Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến sinh trưởng

Điều kiện tự nhiên khu vực huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình có những đặc trưng riêng biệt ảnh hưởng trực tiếp đến quy luật sinh trưởng của rừng bần chua. Độ mặn nước, thổ nhưỡng, khí hậuchế độ thủy văn là những yếu tố then chốt quyết định sự phát triển của loài cây này. Nghiên cứu sinh trưởng rừng bần chua cần xem xét toàn diện các yếu tố này để xây dựng mô hình phát triển chính xác. Hiểu rõ về các điều kiện tự nhiên giúp nông dân và nhà quản lý rừng áp dụng những biện pháp kỹ thuật phù hợp, nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng.

2.1. Độ mặn nước và thành phần đất

Nước mặn với độ mặn dao động từ 10-25 ppt tại khu vực huyện Thái Thụy là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng bần chua. Thổ nhưỡng ngập mặnchất hữu cơ cao, thành phần chủ yếu là bùn và silt giàu dinh dưỡng. Độ pH của đất thường acid nhẹ, từ 5,5-7,0, tạo điều kiện tối ưu cho hệ rễ cây hô hấp.

2.2. Khí hậu và chế độ thủy văn

Khí hậu khu vực Thái Bình theo kiểu monsoon nhiệt đới, với mưa tập trung từ tháng 5-9, lượng mưa năm 1000-1200mm. Nhiệt độ trung bình năm 20-21°C, lực gió mạnh vào mùa đông giáp. Chế độ thủy văn chịu ảnh hưởng bởi triều cường, nước biển xâm nhập sâu vào nội địa, duy trì độ ẩm cao cần thiết cho sinh trưởng bần chua.

III. Phương pháp nghiên cứu quy luật sinh trưởng

Để nghiên cứu quy luật sinh trưởng rừng bần chua, luận văn sử dụng phương pháp khoa học kết hợp giữa điều tra thực địa và phân tích thống kê. Các nhà nghiên cứu tiến hành lấy mẫu cây ở các tuổi rừng khác nhau, từ đó đo đạc đường kính thân cây (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán (Dt)thể tích thân cây (V). Dữ liệu được xử lý bằng các mô hình toán họcphương trình hồi quy để xác định mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh trưởng. Kết quả nghiên cứu giúp xây dựng được bảng lập rừng chính xác phục vụ quản lý rừng hiệu quả.

3.1. Phương pháp thu thập và đo đạc

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát thực địa tại các vùng rừng bần chua thuộc huyện Thái Thụy. Các đơn vị mẫu (ô mẫu) được chọn ngẫu nhiên, kích thước 400m² để đảm bảo tính đại diện. Tại mỗi ô mẫu, tiến hành đo đạc tất cả cây có đường kính ≥5cm, ghi chép các chỉ tiêu về đường kính, chiều cao, đường kính tán.

3.2. Xử lý dữ liệu và phân tích thống kê

Dữ liệu thu thập được nhập vào máy tính và xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dụng. Sử dụng hàm Schumacher và các mô hình toán học khác để thiết lập mối quan hệ giữa tuổi rừng (A) và các chỉ tiêu sinh trưởng D, H, V. Tiêu chuẩn R² (hệ số xác định) được dùng để đánh giá độ phù hợp của phương trình hồi quy.

IV. Kết quả và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu quy luật sinh trưởng rừng bần chua tại Thái Bình cho thấy mối quan hệ rõ ràng giữa tuổi rừng và các chỉ tiêu sinh trưởng. Phân bố số cây theo đường kính thể hiện dạng tương tương với đường cong phân bố chuẩn, cho thấy rừng bần chua có cấu trúc rừng khá đều. Chiều cao vút ngọnđường kính tăng theo tuổi rừng theo các phương trình toán học đã thiết lập. Những phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học cho việc lập kế hoạch khai thác, tỉa chăm sócsản xuất rừng bền vững ở khu vực đồng bằng sông Hồng, đóng góp quan trọng vào phát triển lâm nghiệp hiện đại.

4.1. Quy luật sinh trưởng chính của rừng bần chua

Nghiên cứu xác định được phương trình sinh trưởng mô tả mối quan hệ giữa tuổi rừng và đường kính thân cây, chiều cao vút ngọn, thể tích gỗ. Sinh trưởng đường kính tăng nhanh từ năm 1-5, sau đó chậm lại. Sinh trưởng chiều cao theo hàm số logarit, đạt kích thước tối ưu từ tuổi 10 trở lên. Thể tích gỗ tăng liên tục theo tuổi, với tốc độ lớn nhất ở tuổi 8-12 năm.

4.2. Kiến nghị quản lý và phát triển rừng

Dựa trên kết quả nghiên cứu, nên tỉa chăm sóc rừng bần chua từ tuổi 3-5 để cải thiện sinh trưởng đường kính. Khai thác chính thức nên thực hiện từ tuổi 12-15 khi rừng đạt năng suất cao nhất. Cần bảo vệ rừng bần chua khỏi sâu bệnh và sạt lở. Áp dụng mô hình bền vững để đảm bảo lâu dài giá trị kinh tế và sinh thái của rừng.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Rừng ngập mặn tiếp giáp giữa biển và đất liền, là một hệ sinh thái có sức hấp dẫn đặc biệt về khả năng thích nghi và là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá đối với nước ta. Rừng ngập mặn không những cung cấp các lâm sản có giá trị như than, củi, gỗ, ta nanh, thực phẩm, dược phẩm, tạo sinh khối lớn, tạo cảnh quan biển. mà còn là nơi nuôi dưỡng, sinh sống của nhiều loại hải sản, chim nước, chim di cư và nhiều loài động vật có ý nghĩa kinh tế lớn. Rừng ngập mặn là hệ sinh thái quan trọng có năng suất cao ở vùng cửa sông ven biển nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với các tác động của con người và thiên nhiên.

Rừng ngập mặn có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ bờ biển, bờ sông, điều hòa khí hậu, hạn chế xói lở, mở rộng diện tích lục địa, hạn chế sự xâm nhập mặn, bảo vệ đê điều, đồng ruộng, nơi cư trú của người dân ven biển trước sự tàn phá của gió mùa, bão, nước biển dâng. Diện tích rừng ngập mặn Việt Nam được công bố vào các năm 1983 là 252.000 ha và năm 2008 là 156. Trong vòng 25 năm qua, diện tích rừng ngập mặn Việt Nam đã giảm mất 95.892 ha, (khoảng 62%) so với tổng diện tích rừng ngập mặn năm 1943. Điều này cho thấy tốc độ mất rừng ngập mặn ở Việt Nam là rất cao khoảng 3.

Nhưng từ 1990 trở lại đây, nhờ những chính sách bảo vệ phát triển rừng, các chương trình trồng rừng của chính phủ như chương trình 327, chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng và nhiều chương trình khác mà diện tích rừng liên tục tăng. Bần chua (Sonneratia caseolaris) thuộc họ Bần có một chi Bần, ở Việt Nam có 3 loài trong số 6 loài có trên thế giới. Bần chua sống ở vùng triều có nước lợ là cây thân gỗ thường xanh, cao khoảng 20m, nhiều cành nhánh, tán lá tròn, rộng. Bần chua phân bố ở rừng sát Việt Nam (Bắc, Trung, Nam), Campuchia, Ấn độ, Myanma, Thái lan, Sirilanca, Malaixia, Inđônexia, 2 Philippin, Bắc Úc Châu, Mélanésíc Tân Ghi nê, Nouvelle Hébrides Salomon.

Đây là loài cây ở rừng sát thường mọc ven bờ sông, rạch và đầm lầy nước lợ đến ngọt, cũng có khi tạo thành một quần thụ thuần loại như tại Tiên Lãng, An Hải, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh. Cây bần chua là loài cây có giá trị phòng hộ cao, thích hợp với vùng lập địa ven biển vì vậy bần chua chính là loài cây thích hợp để trồng rừng ngập mặn giúp bảo vệ đê biển, giảm sóng, giảm biến đổi khí hậu. Thái Bình là một tỉnh đồng bằng, có diện tích rừng ngập mặn hơn 4256 ha. Trong đó cây bần chua chiếm tỷ lệ cao trong thành phần cây rừng ngập mặn, cũng là loài cây được ưu tiên cho các dự án trồng rừng ở Thái Bình.

Thái Bình hàng năm đều có kế hoạch trồng mở rộng rừng, lấn biển để tạo một vành đai phòng hộ vững chắc. Nhưng kết quả đạt được còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong quá trình điều chế rừng chưa nắm bắt được một cách khoa học khả năng sinh trưởng và sức sản xuất của rừng, cũng như chưa có được các hệ thống những biểu chuyên dụng phục vụ công tác điều tra cũng như quản lý, phát triển loại hình rừng này. Xuất phát từ những vấn đề trên, trong giới hạn của một đề tài tốt nghiệp cao học cuối khóa chuyên ngành lâm nghiệp, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu quy luật sinh trưởng cho rừng trồng bần chua (Sonneratia caseolaris L.) tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” với nguyện vọng kết quả đạt được của đề tài sẽ đóng góp một phần nhỏ trong việc quản lý và phát triển rừng trồng bần chua tại khu vực nghiên cứu một cách bền vững và đạt hiệu quả cao. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.

Diện tích, phân bố đất ngập mặn và rừng ngập mặn Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên trên phần đất liền là 32.398 ha với bờ biển dài 3.260 ha, chạy suốt từ Bắc (Móng Cái thuộc Quảng Ninh) ở vĩ độ 22°5’B, vào Nam (Hà Tiên thuộc Kiên Giang) đến vĩ độ 8° 33’ B và từ kinh độ 102°10’Đ đến kinh độ 109° 20’Đ. Theo số liệu công bố của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2008, vùng ven biển nước ta chia làm 5 vùng. Tổng diện tích quy hoạch cho mục đích phát triển rừng ngập mặn là 323.712 ha, trong đó có diện tích đất chưa có rừng là 113.972 ha, diện tích đất có rừng là 209.131 ha là rừng trồng và 57.610 ha là rừng tự nhiên), phân bố tại các vùng như sau: - Vùng ven biển tỉnh Quảng Ninh và đồng bằng Bắc Bộ (QN&ĐBBB), gồm 5 tỉnh (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình): 88.3 0 ha, trong đó diện tích có rừng 37.651 ha, phân bố chủ yếu ở tỉnh Quảng Ninh chiếm 18% diện tích. - Vùng ven biển Bắc Trung Bộ (BTB), gồm 6 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế): 7.238 ha, trong đó diện tích có rừng 1.885 ha, phân bố chủ yếu ở tỉnh Thanh Hóa chiếm 1%.

- Vùng ven biển Nam Trung Bộ (NTB): gồm 6 tỉnh (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa): 7 3 ha, trong đó diện tích có rừng không đáng kể. - Vùng ven biển Đông Nam Bộ (ĐNB): gồm 5 tỉnh (Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh): 61.110 ha, trong đó diện tích có rừng là 1.666 ha, phân bố chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh chiếm 19,8%. - Vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): gồm 8 tỉnh (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Thái Bình, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang 4 và Cà Mau): 166.282 ha, trong đó diện tích có rừng 128.537 ha, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Cà Mau và Kiên Giang chiếm 61% .1: Diện tích và phân bố rừng ngập mặn Việt Nam Diện tích có RNM (ha) Chưa TT Vùng ven biển Tổng có Cộng RTN RT RNM Quảng Ninh và Đồng 1 88.689 bằng Bắc Bộ 2 Bắc Trung Bộ 7.353 3 Nam Trung Bộ 743 2 2 741 4 Đông Nam Bộ 61.444 5 Đồng bằng sông Cửu 166.745 Long 2 7 7 Toàn quốc 323. Các yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng đến sự phân bố và sinh trưởng của các loại rừng ngập mặn ở Việt Nam Theo Ngô Đình Quế (2006) các yếu tố chi phối rõ rệt đến sự phân bố và sinh trưởng của các loài cây rừng ngập mặn và các loại rừng ngập mặn ở Việt Nam, đó là: 1.

Chế độ nhiệt Ở miền Bắc thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới biến tính có đông lạnh, trong mùa đông nhiệt độ của nước biển có nhiều ngày, thấp hơn 200 C, do đó chỉ có các loài cây rừng và các loại rừng ngập mặn chịu được lạnh mới tồn tại, như: Rừng đước vòi, rừng trang, rừng mắm biển, rừng bần chua, rừng vẹt dù, và rừng sú. Khí hậu ở miền Nam (từ vĩ tuyến 17 trở vào) thuộc khí hậu nhiệt đới điển hình, nhiệt độ của nước biển luôn cao hơn 200 C. Có các loại rừng ngập mặn rất đặc trưng, không thấy phân bố ở miền Bắc, như rừng đước, rừng 5 đưng, rừng mắm trắng, rừng mắm đen, rừng dà, rừng dừa nước. Chế độ mưa Lượng mưa trong năm nhỏ hơn 1.200 mm, không có rừng ngập mặn phân bố (tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận) Lượng mưa: 1.500 mm/năm, rừng ngập mặn sinh trưởng tốt.

Độ mặn của nước - Độ mặn của nước biến động lớn trong năm từ 4%o (mùa mưa) đến 20%o mùa khô) có rừng bần chua (vùng cửa sông). - Độ mặn của nước cao và ít biến động trong năm 12%o - 31%o rừng, mắm trắng. - Độ mặn của nước biến động từ 7%o (mùa mưa) đến 28%o (mùa khô) có rừng đước, rừng đưng, rừng đước vòi, rừng vẹt, rừng dà. Thành phần cấp hạt của đất Đất có thành phần cơ giới cát rời (hàm lượng cát trên 90%): Không có rừng ngập mặn phân bố.

Thành phần cơ giới cát pha (hàm lượng cát 80% - 90%): Rừng ngập mặn sinh trưởng xấu thường rừng mắm biển mọc tự nhiên. Đất sét pha nặng có nhiều bùn: Rừng ngập mặn sinh trưởng tốt. Loại đất - Đất phù sa ngập mặn gặp phổ biến ở vùng cửa sông đặc biệt ở rừng cửa sông Hồng và sông Cửu Long thường có rừng bần chua, rừng mắm trắng, rừng mắm đen. - Đất phù sa ngập mặn, phèn tiềm tàng là nơi phân bố nhiều loại rừng ngập mặn như rừng đước, rừng đước vòi, rừng vẹt, rừng trang, rừng dà.

- Trên đất than bùn ngập mặn, phèn tiềm tàng rừng ngập mặn sinh trưởng xấu phổ biến có rừng cóc. Độ thành thục của đất (n) Là tỷ số giữa tỷ lệ % của trọng lượng nước và tỷ lệ % của trọng lượng đất - Dạng bùn rất loãng: Chưa xuất hiện rừng ngập mặn (n > 4). 6 - Bùn loãng: Rừng bần chua, rừng mắm trắng, rừng mắm biển (n: 4 - 2. - Sét mềm: Rừng đước vòi, rừng trang, rừng đước, rừng đưng (n: 1.

- Sét: rừng vẹt dù, rừng vẹt, rừng dà. - Sét chặt: Rừng cóc. - Sét rắn chắc: Rừng giá (n < 0. Chất hữu cơ trong đất Hàm lượng chất hữu cơ trong đất có ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng của rừng ngập mặn, nơi có hàm lượng chất hữu cơ quá thấp (< 1%) hoặc quá cao (> 2%) đều ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng rừng ngập mặn.

Một số khái niệm Khái niệm về quá trình sinh trưởng Sinh trưởng của loài cây và rừng nói chung thông qua các nhân tố như đường kính, chiều cao và thể tích nói riêng mang tính quy luật. Việc xây dựng các hàm sinh trưởng hay mô hình hóa quá trình sinh trưởng của rừng đang là xu thế phát triển của nền lâm sinh hiện đại. Quan điểm chung đều thống nhất rằng, trong hoàn cảnh mà các yếu tố ảnh hưởng tương đối đồng nhất thì sinh trưởng được coi như một hàm số chỉ phụ thuộc vào thời gian và phương trình khái quát có dạng y = f(A). Nắm bắt được quá trình sinh trưởng của cây và rừng sẽ là một công cụ tin cậy để đề xuất các biện pháp kỹ thuật phù hợp như tỉa thưa, lượng tỉa thưa hay tuổi khai thác chính của rừng.

Trong kinh doanh và quản lý lâm nghiệp, sinh trưởng của cây rừng đóng một vai trò rất quan trọng. Lượng tăng trưởng hàng năm về gỗ nằm ở tổng thể cây đứng mà nó đại diện cho khả năng sản xuất của rừng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ