phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu gồm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Công Thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Quảng Trị. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Công Thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Quảng Trị. 8 CHƢƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tín dụng và rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại. Tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về tín dụng: “Tín dụng” xuất phát từ tiếng Latin là Creditium, có nghĩa là sự tin tƣởng, tín nhiệm. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì “tín dụng” đƣợc hiểu là sự vay mƣợn.
Theo từ điển bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia, tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng đƣợc phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất xuất hiện, cũng đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa thì tín dụng đƣợc thực hiện dƣới hình thức vay mƣợn bằng hiện vật - hàng hóa.
Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mƣợn bằng tiền tệ. Tín dụng là quan hệ kinh tế giữa hai bên trong đó một bên (bên cấp tín dụng) chuyển nhƣợng quyền sử dụng một lƣợng giá trị cho bên còn lại (bên đƣợc cấp tín dụng) trong một khoảng thời gian nhất định. Hết thời hạn theo thỏa thuận, ngƣời đƣợc cấp tín dụng phải hoàn trả lại cho ngƣời cấp tín dụng một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò là ngƣời cấp tín dụng.
“Tín dụng ngân hàng” là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội và cơ quan nhà nƣớc. Tín dụng ngân hàng có các đặc điểm chủ yếu nhƣ sau: ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và tín dụng, hoạt động huy động vốn và tín dụng đều thực hiện dƣới hình thức tiền tệ, tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Phân loại tín dụng: Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình tín dụng thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro nhằm mục đích quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng[10], [14], [21] - Căn cứ vào thời hạn tín dụng Tùy theo mỗi quốc gia khác nhau mà quy định thời hạn tín dụng có thể khác nhau. Theo cách phân loại này, ở Việt Nam tín dụng đƣợc chia thành 3 loại: + Tín dụng ngắn hạn + Tín dụng trung hạn + Tín dụng dài hạn - Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay + Tín dụng đầu tƣ + Tín dụng tiêu dùng - Căn cứ vào mức độ đảm bảo + Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản.
+ Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản - Căn cứ vào đối tƣợng tín dụng + Tín dụng vốn lƣu động + Tín dụng vốn cố định - Căn cứ vào mức độ rủi ro Cách phân loại này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà quản trị ngân hàng đánh giá mức độ rủi ro của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời. Theo cách phân loại này, tín dụng đƣợc phân thành: + Tín dụng lành mạnh + Tín dụng có vấn đề + Tín dụng quá hạn khó thu hồi Ngoài ra, trong quá trình phân loại, ngƣời ta còn phân chia tín dụng căn cứ vào xuất xứ tín dụng, phƣơng pháp hoàn trả và một số các căn cứ khác tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu. Vai trò của hoạt động tín dụng: Tín dụng ngân hàng đóng vai trò trung gian giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn của doanh nghiệp Với nghiệp vụ huy động vốn ngân hàng thƣơng mại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội đầu tƣ, sinh lợi từ vốn nhàn rỗi tạm thời. Bằng nguồn vốn huy động đƣợc các ngân hàng có điều kiện đáp ứng vốn cho các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn.
Là cầu nối giữa bên thừa vốn và bên thiếu vốn tạm thời, tín dụng ngân hàng góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành một cách liên tục, không bị gián đoạn. Tín dụng ngân hàng góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa chu kỳ thu nhập và chu kỳ tiêu dùng Trong thời gian đầu của cuộc sống con ngƣời phải học tập, học nghề, chờ việc… họ hầu nhƣ chƣa tạo ra khoản thu nhập đáng kể nào, nhƣng lại có nhu cầu chi tiêu cao. Khi đã tham gia vào quá trình sản xuất xã hội, lao động của họ không những tạo ra thu nhập đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu và còn có khả năng dành một phần để tích lũy, tích lũy để thỏa mãn nhu cầu cao hơn hay để dự phòng. Tín dụng ngân hàng không chỉ giải quyết đƣợc mâu thuẫn giữa chu kỳ thu nhập và chu kỳ tiêu dùng của các cá nhân, mà còn góp phần nâng cao đời sống cho ngƣời lao động, kích thích sản xuất phát triển.
Tín dụng ngân hàng thu hút nguồn vốn tiết kiệm và thúc đẩy quá trình tậptrung vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế. Đối với các doanh nghiệp vốn tự có dùng để đầu tƣ có giới hạn, bên cạnh đó việc huy động vốn trực tiếp đòi hỏi những điều kiện hết sức chặt chẽ mà không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng thực hiện đƣợc, trong trƣờng hợp này vốn tín dụng là nguồn tài trợ quan trọng cho nhu cầu đầu tƣ. Tín dụng thực hiện huy động vốn tiết kiệm của cá nhân, doanh nghiệp, nhà nƣớc để đáp ứng nhu cầu đầu tƣ, phát triển kinh tế. Bằng việc thu hút nguồn vốn tiết kiệm đáp ứng cho nhu cầu đầu tƣ, tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tƣ.
11 Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả Với sự hoạt động của hệ thống tín dụng, các nguồn tiền nhàn rỗi của cá nhân và doanh nghiệp đƣợc tập trung lại và sau đó tín dụng tiến hành phân phối các nguồn vốn đã đƣợc tập trung này nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, lƣu thông hàng hóa cũng nhƣ nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội. Thông qua kênh tín dụng, bằng chính sách tiền tệ thích hợp cho từng giai đoạn nhà nƣớc có thể điều tiết lƣợng tiền cung ứng cho nền kinh tế góp phần ổn định tiền tệ, giá cả. Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định đời sống của dân cư, tạo công ăn việc làm và đảm bảo trật tự xã hội Do tín dụng có vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng, thỏa mãn nhu cầu đời sống của ngƣời lao động. Bên cạnh đó, việc cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế đã tạo ra khả năng khai thác các tiềm năng sẵn có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, lao động… từ đó có thể thu hút nhiều lực lƣợng lao động của xã hội, tạo công ăn, việc làm.
Một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống đƣợc ổn định, ai cũng có công ăn việc làm. Tín dụng ngân hàng góp phần tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế sử dụng vốn vay Đặc trƣng của tín dụng là ngƣời vay vốn phải hoàn trả cả vốn và lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng tín dụng, nếu vi phạm phải chịu phạt theo lãi suất quá hạn hoặc phải chịu các biện pháp chế tài khác. Bằng những tác động nhƣ vậy nên các doanh nghiệp vay vốn phải thƣờng xuyên quan tâm thực hiện chế độ hoạch toán kinh tế, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đó cũng là điều kiện quyết định đến khả năng hoàn trả vốn vay và tăng tích lũy cho doanh nghiệp. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm: Khái niệm rủi ro tín dụng đã đƣợc nhiều nhà kinh doanh ngân hàng, nhà nghiên cứu đề cập trên nhiều phƣơng diện khác nhau,rủi ro tín dụng thƣờng đƣợc hiểu là rủi ro xuất hiện khi bên có nghĩa vụ thanh toán trong quan hệ tín dụng 12 không sẵn sàng hoặc không có khả năng thanh toán đầy đủ cho bên còn lại theo thỏa thuận. Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tƣ 02/2013/TT-NHNN do NHNN Việt Nam ban hành ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng. chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Phân loại rủi ro tín dụng Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), rủi ro tín dụng gồm 2 bộ phận là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.58] - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, đánh giá khách hàng và xét duyệt cho vay.
Rủi ro giao dịch bao gồm: + Rủi ro xét duyệt: rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phƣơng án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng. + Rủi ro bảo đảm: liên quan đến chính sách và hợp đồng cho vay nhƣ các tiêu chuẩn về bảo đảm mức tiền vay, loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm… + Rủi ro kiểm soát: liên quan đến việc theo dõi khoản cho vay.