Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị quan hệ khách hàng Chương 2: Thực trạng quản trị quan hệ khách hàng trong hoạt động tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam CN KCN Phú Tài Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam CN KCN Phú Tài 12 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khách hàng Có thể nói khách hàng là yếu tố sống – còn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải có khách hàng, cần duy trì, phát triển khách hàng và tìm mọi cách phải đáp ứng, thỏa mãn được yêu cầu của khách hàng.
Tất cả các doanh nghiệp đều tìm cách giữ và thu hút thêm khách hàng của mình bằng nhiều hình thức và như vậy vai trò của khách hàng đối với mỗi doanh nghiệp là vô cùng quan trọng. Peter Fdrucker (1954), cha đẻ của ngành quản trị định nghĩa “Khách hàng của một doanh nghiệp là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp, v.v… có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó”. Ông xác định mục ti u của một doanh nghiệp là “tạo ra khách hàng” [26]. Trong kinh doanh, khách hàng đóng vai trò tối quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp.
Do đó, để có thể phát triển, các doanh nghiệp cần chú trọng công tác quản lý và xây dựng lòng trung thành của khách hàng hiện tại và phát triển đội ngũ khách hàng mới. Tom Peters (1987) xem khách hàng là “tài sản làm tăng thêm giá trị”. “Đó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không có ghi trong sổ sách doanh nghiệp. Vì vậy các doanh nghiệp phải xem khách hàng như là nguồn vốn cần được quản lý và phát huy như bất kỳ nguồn vốn nào khác” [27].
Đối với một ngân hàng thì khách hàng tham gia vào quá trình cung cấp đầu vào như gửi tiền tiết kiệm, mua trái phiếu… Đồng thời, chính khách hàng cũng là b n ti u thụ đầu ra khi vay vốn từ ngân hàng. Mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng là mối quan hệ hai chiều, tạo điều kiện, bổ sung cho nhau cùng tồn tại và phát triển. Sự thành công hay thất bại của khách hàng là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, ngược lại sự đổi mới tiến bộ của ngân hàng về chất lượng dịch vụ, ứng dụng khoa học công nghệ hay đổi mới quy trình, quy định trong nghiệp vụ… cũng sẽ góp phần tạo điều kiện cho sự thành công trong kinh doanh của khách hàng. Quản trị quan hệ khách hàng 1.
Khái niệm về quản trị quan hệ khách hàng Quản trị doanh nghiệp theo định hướng thỏa mãn nhu cầu khách hàng sẽ dẫn đến doanh nghiệp phải thay đổi và phát triển tổ chức, sản xuất và cung ứng sản phẩm và dịch vụ theo những y u cầu muôn hình muôn vẻ của khách hàng, chứ không chỉ dựa tr n nhu cầu và khả năng hiện có của doanh nghiệp [2]. Theo Parvatiyar và Sheth (2001), “Quản trị quan hệ khách hàng là một chiến lược và quy trình toàn diện từ tìm kiếm, chọn lựa, duy trì và hợp tác với các khách hàng có chọn lọc để tạo ra giá trị vượt trội cho các công ty và khách hàng” [23]. Từ khi ra đời đến nay, các quan điểm về CRM không ngừng thay đổi và khác nhau. Trong nghi n cứu của mình, Zablah và cộng sự (2004) đã tổng hợp 05 quan điểm khác nhau về CRM theo “chiến lược, tiến trình, triết lý, năng lực và công nghệ” Từ đây, các tác giả đã đưa ra khái niệm CRM theo ba quan điểm chính là công nghệ, quy trình quản lý bán hàng và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: “CRM là một quá trình li n tục li n quan đến việc phát triển và tận dụng trí tuệ thị trường nhằm mục đích xây dựng và duy trì lợi nhuận - tối đa hóa danh mục các mối quan hệ với khách hàng” [34].
CRM quản lý toàn diện thông tin về khách hàng, không tham gia vào chu kỳ phát triển của sản phẩm. Nó đòi hỏi triết lý và văn hóa kinh doanh hướng vào khách hàng để hỗ trợ hiệu quả cho marketing, bán hàng và dịch vụ. Tại Việt Nam, theo Trương Đình Chiến và cộng sự, nhìn chung, các khái niệm về CRM được xác định theo ba quan điểm: (1) nhấn mạnh yếu tố công nghệ, (2) nhấn mạnh đến quy trình kinh doanh hay bán hàng và (3) coi CRM chính là chiến lược kinh doanh [1]. Quan điểm thứ 1 cho rằng CRM như một giải pháp công nghệ trợ giúp cho quản lý những vấn đề liên quan đến khách hàng là quan điểm tương đối phổ biến.
Theo quan điểm này, CRM là một hệ thống thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau cùng với những phương pháp phân tích để đưa ra những báo cáo, bảng biểu giúp doanh nghiệp có một bức tranh tổng thể về khách hàng, thị trường và những vấn đề cần quan tâm khác trong kinh doanh. Quan điểm thứ 2 cho rằng CRM như là năng lực của doanh nghiệp trong tiếp cận và/hoặc thực hiện trao đổi mua bán với khách hàng thông qua xây dựng và thực hiện quy trình bán hàng. CRM là một quy trình hoặc phương pháp được doanh 14 nghiệp sử dụng để tìm hiểu về nhu cầu và hành vi của khách hàng trong quá trình mua bán, nhằm phát triển mối quan hệ thân thiết hơn với họ. Có rất nhiều yếu tố công nghệ làm n n chương trình CRM, nhưng CRM không chỉ là những chương trình phần mềm Quản trị quan hệ khách hàng.
CRM được hiểu là một quy trình giúp doanh nghiệp có được nhiều thông tin về khách hàng và sự phản hồi từ phía khách hàng. Quan điểm thứ ba cho rằng CRM như chiến lược kinh doanh là quan điểm toàn diện nhất. Theo quan điểm này, CRM là một chiến lược kinh doanh nhằm tối ưu hóa lợi nhuận, doanh thu và sự hài lòng của khách hàng (định nghĩa của Gartner); là một chiến lược tổng hợp với định hướng khách hàng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của DN tr n thị trường. Với quan điểm này, CRM thường được cấp lãnh đạo cao nhất của các DN quan tâm.
Vì vậy, theo các quan điểm như tr n, ta có thể hiểu được CRM không chỉ là dịch vụ khách hàng hay công nghệ phần mềm để quản lý hồ sơ khách hàng mà có thể được hiểu theo nghĩa rộng hơn CRM là một chiến lược kinh doanh định hướng theo khách hàng, mà cụ thể hơn là: CRM là tập hợp các hoạt động mang tính chiến lược nhằm lựa chọn, thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ tốt đẹp và lâu dài giữa doanh nghiệp và khách hàng trên cơ sở làm thích ứng các quá trình tạo ra lợi ích của khách hàng và doanh nghiệp [2]. Mục tiêu của quản trị quan hệ khách hàng của ngân hàng thương mại Mục ti u căn bản của CRM cũng giống như hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào, đó là gia tăng lợi nhuận. CRM giúp cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh. Vì hiện nay, sự canh tranh giữa các ngân hàng tr n địa bàn diễn ra ngày càng gay gắt, do đó các ngân hàng phải không ngừng đổi mới sản phẩm dịch vụ cũng như quy trình quy định để có thể đáp ứng một cách nhanh chóng, chính xác, tin cậy đối với nhu cầu của khách hàng.
Do đó, CRM là một công cụ thực sự hữu ích giúp các ngân hàng có thể đạt được các mục ti u đã đề ra. Theo Peppers và cộng sự (2004) [25], mục tiêu của CRM là: - Nhận diện khách hàng - Phân biệt khách hàng - Sự trao đổi, tương tác với khách hàng 15 - Cá nhân hóa khách hàng Nói một cách tổng quát, mục tiêu của ngân hàng khi triển khai chiến lược CRM hiệu quả, ngân hàng sẵn sàng mang lại cho khách hàng các dịch vụ tốt hơn, cải thiện chất lượng dịch vụ của trung tâm hỗ trợ khách hàng, hay cải tiến đơn giản hóa quy trình bán hàng, giúp tìm kiếm được các khách hàng mới, khai thác nguồn khách hàng tiềm năng, gia tăng lòng trung thành của khách hàng hiện hữu, từ đó giúp gia tăng được vị thế cạnh tranh, góp phần tăng doanh thu, gia tăng lợi nhuận thu được từ khách hàng mang lại. Lợi ích của quản trị quan hệ khách hàng Richards và Jones (2008) cho rằng những lợi ích trung tâm của CRM sẽ được kết nối với ba loại giá trị là mối quan hệ, giá trị và thương hiệu, và cuối cùng là giá trị của khách hàng và được thể hiện trên 7 khía cạnh: (1)Nâng cao khả năng nhắm mục tiêu khách hàng sinh lời; (2) Hỗ trợ tích hợp trên các kênh; (3) Nâng cao hiệu quả và hiệu quả của lực lượng bán hàng; (4) Cải thiện giá cả; (5) Sản phẩm và dịch vụ tùy chỉnh; (6) Cải thiện hiệu quả và hiệu quả dịch vụ khách hàng; (7) Thông điệp tiếp thị được cá nhân hóa [28]. Tại Việt Nam, nhiều quan điểm cho rằng hoạt động của CRM tốt giúp doanh nghiệp giữ được khách hàng trung thành, giảm việc mất khách hàng và thu hút được nhiều khách hàng mới hơn từ việc tăng mức độ hài lòng của khách hàng, giảm thiểu xung đột, và tạo động lực cho nhân viên.
Cụ thể CRM sẽ đem lại cho tổ chức những lợi ích như sau: - Giảm chi phí để có khách hàng mới: Chi phí để tìm được khách hàng mới sẽ được giảm do tiết kiệm được các chi phí như Marketing, li n lạc, tiếp xúc, theo đuổi, phục vụ, chăm sóc khách hàng đó… - Giảm chi phí bán hàng: Chi phí bán hàng giảm do CRM giúp bộ phận bán hàng rút ngắn chu kỳ bán hàng, nâng cao năng suất phục vụ khách hàng của từng nhân viên, nâng cao hệ số thỏa mãn đồng thời giảm thời gian phản hồi và thời gian giải quyết mỗi yêu cầu từ khách hàng. - Gia tăng khả năng sinh lợi của khách hàng: Khả năng sinh lợi sẽ được gia tăng do khách hàng gia tăng th m chi ti u, tăng l n từ các hình thức cross-selling, up-selling, từ đó góp phần gia tăng doanh thu và tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. 16 - Tăng sự duy trì và lòng trung thành của khách hàng: CRM giúp gây dựng mối quan hệ bền chặt với khách hàng. Sự duy trì của khách hàng tăng do họ có nhu cầu mua hàng lâu hơn, thường xuy n hơn và nhiều hơn.