Luận văn thạc sĩ: Quản lý thu ngân sách nhà nước tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện quảng ninh tỉnh quảng bình, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong

Trường đại học

Không có thông tin

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2018

111
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh luận văn quản lý thu ngân sách huyện Quảng Ninh

Luận văn thạc sĩ “Quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, phân tích toàn diện thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách. Bối cảnh nghiên cứu cho thấy huyện Quảng Ninh, dù có tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, vẫn là một địa phương hưởng trợ cấp từ ngân sách cấp trên. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cải thiện công tác quản lý thu, đảm bảo sự ổn định và bền vững cho nguồn thu ngân sách địa phương. Luận văn nhấn mạnh, việc quản lý hoạt động thu ngân sách hàng năm không chỉ cần chính xác, đầy đủ mà còn phải minh bạch, khách quan. Mục tiêu là tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích các chủ thể kinh tế tham gia đóng góp vào thu ngân sách nhà nước. Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2014-2016, một giai đoạn quan trọng phản ánh những nỗ lực và thách thức trong điều hành tài chính công của huyện. Tầm quan trọng của đề tài nằm ở việc cung cấp một cái nhìn hệ thống, từ cơ sở lý luận đến thực tiễn, về các vấn đề liên quan đến quản lý ngân sách địa phương. Thông qua việc phân tích số liệu từ Chi cục Thuế huyện Quảng NinhKho bạc Nhà nước huyện Quảng Ninh, luận văn đã chỉ ra những thành công ban đầu cũng như các "điểm nghẽn" cần tháo gỡ. Các giải pháp được đề xuất không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có tính khả thi cao, hướng đến việc xây dựng một nền tài chính công vững mạnh, góp phần thúc đẩy tình hình kinh tế - xã hội huyện Quảng Ninh phát triển bền vững. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý tài chính tại địa phương.

1.1. Bối cảnh và tính cấp thiết của công tác quản lý thu ngân sách

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng thu ngân sách nhà nước tại huyện Quảng Ninh còn nhiều bất cập. Mặc dù kinh tế tăng trưởng, huyện vẫn phụ thuộc vào trợ cấp cân đối từ ngân sách cấp trên. Luận văn chỉ ra công tác quản lý còn thiếu thống nhất, nhiều nguồn lực chưa được huy động hiệu quả vào ngân sách, dẫn đến tình trạng thất thu vẫn còn xảy ra. Đặc biệt, nguồn thu ngân sách chưa đảm bảo tự cân đối chi, chủ yếu phụ thuộc vào các khoản thu không bền vững như tiền sử dụng đất. Thực trạng này đòi hỏi phải có những giải pháp đột phá trong quản lý ngân sách địa phương để đảm bảo nguồn lực cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Việc hoàn thiện công tác quản lý thu không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành thuế mà cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị.

1.2. Mục tiêu đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu chung của luận văn là đánh giá thực trạng công tác quản lý thu ngân sách huyện Quảng Ninh và đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Cụ thể, nghiên cứu hệ thống hóa lý luận, phân tích thực trạng giai đoạn 2014-2016, và xây dựng phương hướng đến năm 2020. Đối tượng nghiên cứu chính là công tác quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn. Phạm vi không gian được giới hạn tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Phạm vi thời gian tập trung vào số liệu và thực trạng từ năm 2014 đến 2016. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là thu thập, tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo của Chi cục Thuế, Phòng Tài chính-Kế hoạch, Kho bạc Nhà nước, kết hợp phỏng vấn chuyên gia để làm rõ các vấn đề thực tiễn, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách.

II. Các thách thức trong quản lý thu ngân sách tại Quảng Ninh

Công tác quản lý thu ngân sách huyện Quảng Ninh đối mặt với nhiều thách thức cố hữu, ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của nguồn thu ngân sách. Thách thức lớn nhất, được luận văn chỉ rõ, là sự phụ thuộc lớn vào các nguồn thu không ổn định, đặc biệt là thu từ tiền sử dụng đất. Khi thị trường bất động sản trầm lắng, nguồn thu này sụt giảm mạnh, gây áp lực lớn lên cân đối ngân sách. Bên cạnh đó, tình trạng thất thu thuế vẫn còn tồn tại, nhất là trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và các hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ. Việc khai thác nguồn thu mới còn hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng kinh tế của địa phương. Một vấn đề khác là nhận thức và trách nhiệm của một số chính quyền cấp xã và đơn vị liên quan. Luận văn trích dẫn: "chính quyền cấp xã và một số đơn vị có liên quan còn xem nhẹ công tác thu ngân sách và coi đó là nhiệm vụ của riêng ngành thuế". Sự thiếu phối hợp này tạo ra kẽ hở trong quản lý, làm giảm hiệu quả quản lý thu ngân sách. Công tác phân cấp quản lý ngân sách tuy đã được thực hiện nhưng đôi khi chưa phát huy hiệu quả tối đa, quyền tự chủ và trách nhiệm của cấp cơ sở chưa được đề cao đúng mức. Những thách thức này đòi hỏi phải có một chiến lược tổng thể, từ việc cải thiện chính sách tài khóa đến việc nâng cao năng lực của bộ máy quản lý, nhằm tạo ra một cơ cấu thu ngân sách huyện Quảng Ninh bền vững và lành mạnh hơn.

2.1. Thực trạng thất thu thuế và sự phụ thuộc ngân sách cấp trên

Một trong những hạn chế lớn nhất là công tác chống thất thu thuế chưa thực sự hiệu quả. Nhiều hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ chưa được quản lý chặt chẽ, dẫn đến việc kê khai doanh thu không đầy đủ. Điều này không chỉ làm giảm nguồn thu mà còn tạo ra sự bất bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế. Song song đó, sự phụ thuộc vào ngân sách cấp trên là một thực tế kéo dài. Việc huyện liên tục nhận trợ cấp cân đối cho thấy các nguồn thu ngân sách tại chỗ chưa đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, đặc biệt là chi đầu tư phát triển. Thực trạng này làm giảm tính chủ động của địa phương trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra.

2.2. Hạn chế trong khai thác và cơ cấu nguồn thu chưa bền vững

Luận văn phân tích sâu về cơ cấu thu ngân sách huyện Quảng Ninh, cho thấy sự mất cân đối nghiêm trọng. Các khoản thu từ sản xuất, kinh doanh chiếm tỷ trọng chưa cao, trong khi thu từ đất đai lại chiếm một phần lớn. Đây là một cơ cấu thiếu bền vững, rủi ro cao. Công tác khai thác nguồn thu mới từ các tiềm năng kinh tế như du lịch, dịch vụ, công nghiệp chế biến chưa được quan tâm đúng mức. Việc nuôi dưỡng nguồn thu dài hạn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển để tăng thu bền vững là một bài toán cần được giải quyết. Tính bền vững của nguồn thu ngân sách là yếu tố then chốt để đảm bảo tự chủ tài chính cho địa phương.

III. Phương pháp lập dự toán và chấp hành thu ngân sách tối ưu

Để nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách, luận văn đề cao vai trò của công tác lập dự toán và tổ chức chấp hành. Một dự toán thu ngân sách khoa học, sát thực tế là nền tảng cho mọi hoạt động quản lý. Tại huyện Quảng Ninh, việc lập dự toán dựa trên nhiều căn cứ quan trọng: Luật Ngân sách nhà nước, nghị quyết của Đảng bộ huyện, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, và đặc biệt là tình hình thực hiện của các năm trước. Quy trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Chi cục Thuế huyện Quảng Ninh, Phòng Tài chính - Kế hoạch và UBND các xã, thị trấn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy dự toán đôi khi còn mang tính chỉ tiêu, chưa lường hết biến động của thị trường, nhất là với nguồn thu từ đất. Về công tác chấp hành, luận văn nhấn mạnh vai trò trung tâm của Kho bạc Nhà nước huyện Quảng Ninh trong việc tập trung mọi khoản thu vào ngân sách. Quy trình thu qua Kho bạc, ngân hàng thương mại và thu tiền mặt trực tiếp được chuẩn hóa để đảm bảo tính minh bạch, kịp thời. Việc hiện đại hóa quy trình, đẩy mạnh thu nộp điện tử là một giải pháp quan trọng giúp giảm thiểu thời gian và chi phí cho người nộp thuế, đồng thời giúp cơ quan quản lý kiểm soát dòng tiền tốt hơn. Tóm lại, việc cải tiến liên tục từ khâu lập dự toán thu ngân sách đến khâu tổ chức thực hiện là chìa khóa để hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách huyện Quảng Ninh.

3.1. Quy trình và các căn cứ lập dự toán thu ngân sách nhà nước

Công tác lập dự toán thu ngân sách tại huyện Quảng Ninh được thực hiện theo quy trình từ dưới lên. Chi cục Thuế lập dự toán sơ bộ, sau đó thảo luận với UBND huyện và Cục Thuế tỉnh để thống nhất số liệu. Các căn cứ chính bao gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế dự báo, sự thay đổi của chính sách thuế, pháp luật liên quan, và năng lực thu của năm trước. Luận văn giai đoạn 2014-2016 cho thấy, dự toán các khoản thu cân đối ngân sách có sự biến động, phản ánh những khó khăn trong việc dự báo nguồn thu từ đất đai. Việc nâng cao chất lượng phân tích, dự báo là yêu cầu cấp thiết để dự toán ngày càng sát thực tiễn, làm cơ sở vững chắc cho điều hành quản lý ngân sách địa phương.

3.2. Vai trò của Kho bạc và Chi cục Thuế trong chấp hành dự toán

Trong quá trình chấp hành, Chi cục Thuế huyện Quảng Ninh giữ vai trò tổ chức, đôn đốc thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí vào ngân sách. Kho bạc Nhà nước huyện Quảng Ninh đóng vai trò là "người gác cổng" cuối cùng, thực hiện hạch toán và quản lý tập trung các khoản thu. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai cơ quan này là yếu tố quyết định đến tiến độ hoàn thành dự toán. Luận văn cũng đề cập đến việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong trao đổi dữ liệu giữa Thuế và Kho bạc để đối soát số liệu nhanh chóng, chính xác, góp phần hiện đại hóa công tác thu ngân sách nhà nước.

IV. Top giải pháp hoàn thiện quản lý thu ngân sách huyện Quảng Ninh

Dựa trên phân tích thực trạng, luận văn đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách huyện Quảng Ninh. Giải pháp hàng đầu là tăng cường công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế. Khi người dân và doanh nghiệp hiểu rõ chính sách, được hỗ trợ tận tình, tính tuân thủ pháp luật thuế sẽ tăng lên, từ đó giúp chống thất thu thuế một cách bền vững. Song song đó, cần tăng cường công tác quản lý và kiểm tra, thanh tra. Việc rà soát, nắm chắc đối tượng nộp thuế, đặc biệt là các hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp ngoài quốc doanh, là nhiệm vụ trọng tâm. Áp dụng quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra để tập trung vào những lĩnh vực, đối tượng có khả năng gian lận cao. Một giải pháp then chốt khác là hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan Tài chính - Thuế - Kho bạc và các ban ngành liên quan. Sự phối hợp này đảm bảo thông tin được chia sẻ kịp thời, các vướng mắc được giải quyết nhanh chóng, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quản lý ngân sách địa phương. Cuối cùng, không thể thiếu giải pháp về con người và công nghệ. Cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thuế thông qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và đạo đức công vụ. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi khâu quản lý, từ kê khai, nộp thuế đến phân tích dữ liệu để hỗ trợ ra quyết định.

4.1. Tăng cường tuyên truyền hỗ trợ và thanh tra người nộp thuế

Giải pháp này tập trung vào việc thay đổi tư duy quản lý từ "cưỡng chế" sang "phục vụ". Chi cục Thuế huyện Quảng Ninh cần đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền chính sách thuế mới. Tổ chức các buổi đối thoại, tư vấn trực tiếp để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Công tác hỗ trợ phải thực chất, hiệu quả. Về thanh tra, cần xây dựng kế hoạch dựa trên phân tích rủi ro, tránh kiểm tra tràn lan gây phiền hà cho người nộp thuế nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả trong việc chống thất thu thuế, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm để tăng tính răn đe.

4.2. Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và nâng cao năng lực cán bộ

Để quản lý thu ngân sách nhà nước hiệu quả, không thể thiếu sự phối hợp chặt chẽ. Cần xây dựng quy chế phối hợp cụ thể giữa cơ quan Tài chính, Thuế, Kho bạc, Tài nguyên Môi trường, Công an kinh tế... trong việc trao đổi thông tin, quản lý các nguồn thu ngân sách, đặc biệt là các khoản thu liên quan đến đất đai và tài nguyên. Bên cạnh đó, yếu tố con người là quyết định. Việc thường xuyên đào tạo, cập nhật kiến thức mới, nâng cao kỹ năng ứng dụng công nghệ và phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ làm công tác thu ngân sách là một khoản đầu tư chiến lược, lâu dài cho sự phát triển của nền tài chính địa phương.

V. Đánh giá kết quả quản lý thu ngân sách giai đoạn 2014 2016

Phân tích số liệu trong giai đoạn 2014-2016, luận văn đưa ra một bức tranh toàn diện về công tác quản lý thu ngân sách huyện Quảng Ninh. Về mặt tích cực, tổng thu ngân sách trên địa bàn trong nhiều năm đã đạt và vượt dự toán được giao. Điều này thể hiện sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là cơ quan Thuế và Tài chính trong việc triển khai các biện pháp quản lý. Công tác quyết toán ngân sách ngày càng đi vào nề nếp, đảm bảo tính chính xác và tuân thủ quy định. Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ ra những hạn chế dai dẳng. Cơ cấu thu ngân sách huyện Quảng Ninh vẫn chưa có sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng bền vững. Tỷ trọng thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh còn thấp so với tiềm năng. Sự biến động của các khoản thu từ đất đai vẫn là yếu tố chính ảnh hưởng đến việc hoàn thành dự toán. Ví dụ, tài liệu gốc đề cập giai đoạn 2014-2015, dự toán thu giảm do thị trường bất động sản trầm lắng. Điều này cho thấy sự bị động trong công tác quản lý ngân sách địa phương. Công tác khai thác nguồn thu mới chưa tạo ra đột phá. Việc phân tích sâu các số liệu quyết toán ngân sách qua từng năm đã giúp luận văn nhận diện chính xác các điểm mạnh cần phát huy và các điểm yếu cần khắc phục để nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Phân tích số liệu dự toán thực hiện và quyết toán ngân sách

Số liệu từ các Bảng 2.6 và 2.10 trong luận văn cho thấy tình hình thực hiện dự toán thu ngân sáchquyết toán ngân sách có những điểm sáng nhưng cũng tồn tại nhiều vấn đề. Mặc dù tổng thu thường vượt dự toán, nhưng khi phân tích sâu vào từng khoản thu, có thể thấy sự không đồng đều. Một số khoản thu ổn định như thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh có thể không đạt, trong khi thu tiền sử dụng đất lại vượt xa kế hoạch, "gánh" cho tổng thu. Sự chênh lệch lớn giữa dự toán và thực hiện ở một số khoản thu cho thấy công tác dự báo cần được cải thiện để đảm bảo tính khả thi và chủ động trong điều hành.

5.2. Các thành tựu đạt được và những nguyên nhân của hạn chế

Thành tựu nổi bật là duy trì được tốc độ tăng thu khá, đảm bảo nguồn lực cho các nhiệm vụ chi thường xuyên và một phần chi đầu tư của địa phương. Tuy nhiên, các hạn chế vẫn còn đó. Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế này, theo luận văn, bao gồm: cơ chế, chính sách tài khóa chung còn những điểm chưa phù hợp với thực tiễn địa phương; năng lực quản lý của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; ý thức chấp hành của một bộ phận người nộp thuế chưa cao; và sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa thực sự đồng bộ, hiệu quả. Việc xác định rõ nguyên nhân là cơ sở để đưa ra các giải pháp khắc phục triệt để.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

12/10/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện quảng ninh tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Lý thuyết về ngân sách nhà nước 1. Khái niệ m NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước, gắn liền với sự hình thành, phát triển của Nhà nước và hàng hóa - tiền tệ, là một thành phần trong hệ thống tài chính. Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện chức năng chính trị duy trì và phát triển kinh tế - xã hội, quy định các khoản thu chi của Nhà nước nhằm mục đích đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước.

Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội, khái niệm NSNN đã được đề cập dưới các góc độ khác nhau. Ở Việt Nam, theo Điều 1 Luật NSNN 2002 (số 01/2002/QH11 do Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002), đã xác định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thấm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm đế đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" [10]. NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ. Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thế hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu KT-XH.

NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua. NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Quỹ này thể hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân đế đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động. Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thế xác định được vào bất kỳ thời điểm nào.

Mặt động thế hiện các quan hệ phân phổi dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bố các nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phương của nền kinh tế quốc dân. [1] 5 NSNN là một phạm trù kinh tế tài chính, được coi là một hệ thống quan hệ kinh tế tồn tại khách quan.Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặc trung bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính và bằng các quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được tạo lập và sử dụng.Hệ thống các quan hệ kinh tế này bao gồm: - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư.

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính. [1] Như vậy đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu và các khoản chi của nó thì NSNN lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối, thể hiện các quan hệ phân phối và các quan hệ lợi ích kinh tế gắn với một chủ thế đặc biệt, đó là Nhà nước nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chính quốc gia đế giải quyết các nhiệm vụ về KT-XH. Hệ thống NSNN là tổng thế các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tố chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống NSNN được tổ chức phù hợp với hệ thống tố chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước.

Ở nước ta bộ máy quản lý hành chính Nhà nước được tố chức 4 cấp: trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn. Mỗi cấp chính quyền đều phải có ngân sách đế thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và phù hợp với khả năng quản lý của cấp chính quyền đó. Bả n chấ t củ a ngân sách nhà nư ớ c Những khái niệm hoặc định nghĩa trên về NSNN chỉ thể hiện về tính pháp lý hoặc hình thức hoạt động của NSNN, mà chưa đi sâu vào nội dung khoa học của NSNN với tư cách nó là phạm trù kinh tế, lịch sử và gắn với bản chất, chức năng của Nhà nước đương quyền. Dựa trên cơ sở phân tích khoa học về quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển của tài chính và ngân sách, hầu hết các nhà khoa học tài 6 chính đều thừa nhận tài chính nói chung và ngân sách nói riêng là phạm trù kinh tế - lịch sử.

Là phạm trù kinh tế, nó gắn với sự phát triển kinh tế - hàng hóa; là phạm trù lịch sử nó gắn với sự ra đời và phát triển của Nhà nước và là công cụ kinh tế của Nhà nước. Thông qua Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện các quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị các nguồn lực tài chính, bằng việc huy động một bộ phận thu nhập của xã hội dưới hình thức thuế và các hình thức động viên khác để đáp ứng các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước. Việc thực hiện các quan hệ phân phối nói trên, chủ yếu thông qua quyền lực chính trị của Nhà nước, bằng thể chế hóa của pháp luật, để động viên các nguồn tài chính có tính chất bắt buộc và hình thành quỹ tiền tệ tập trung, phục vụ cho các chức năng của Nhà nước đương quyền. Do vậy, nếu nhìn về hình thức hoạt động của NSNN, chắc chắn có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của NSNN.

Để có cách nhìn nhận đầy đủ hơn về bản chất của NSNN một cách toàn diện cả về phương diện khoa học và thực tiễn. Đồng thời với tư cách là công cụ kinh tế của Nhà nước; việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến NSNN cần phải xem xét trên các góc độ sau: -Thứ nhất, trên góc độ khoa học - ngân sách là phạm trù kinh tế - lịch sử (như đã đề cập trên). -Thứ hai, nhìn từ góc độ kinh tế - xã hội - ngân sách phản ảnh tổng thể các quan hệ kinh tế - xã hội thông qua quan hệ động viên các nguồn lực tài chính và phân phối các nguồn lực tài chính đó cho các mục tiêu kinh tế - xã hội. -Thứ ba, trên góc độ nội dung vật chất - ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất, được sử dụng để thực hiện các chức năng của Nhà nước.

-Thứ tư, nhìn trên góc độ quản lý - ngân sách là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước hay là bảng cân đối thu - chi chủ yếu của Nhà nước. -Thứ năm, từ góc độ pháp lý - NSNN là đạo luật tài chính cơ bản trong năm tài chính.[2] Từ cách tiếp cận đó, có thể rút ra về bản chất sâu xa của NSNN: Ngân sách nhà nước là hệ thống (tổng thể) các quan hệ kinh tế, gắn liền với 7 quá trình phân phổi các nguồn lực tài chính của xã hội để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ nhẩt định. Thông qua việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh dưới hình thức động viên thuế, phí để hình thành nguồn lực tài chính của Nhà nước. Ngược lại, NSNN thực hiện việc đầu tư và tài trợ hoạt động của các doanh nghiệp như: Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, trợ giá, trợ vốn, bao tiêu để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp cạnh tranh phát triển.

Quan hệ giữa NSNN với các doanh nghiệp có thể được coi như mối quan hệ trung tâm của hệ thống tài chính, và đó là quan hệ giữa khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính ngân sách và khâu cơ sở của hệ thống tài chính (Tài chính doanh nghiệp). Quan hệ giữa NSNN và tài chính doanh nghiệp là đầu mối trong phân phối các nguồn lực tài chính, quyết định đến quan hệ giữa tích tụ, tập trung vốn và ảnh hưởng đến cả quy mô và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính. Mặt khác, suy cho cùng, mối quan hệ giữa hai khâu này có tính chất quyết định đến việc hình thành cơ chế quản lý tài chính và trực tiếp tác động tích cực đến quá trình kinh tế. Thông qua mối quan hệ đó, Nhà nước còn thực hiện kiểm tra thường xuyên, toàn diện các hoạt động kinh doanh, môi trường kinh doanh và tuân thủ pháp luật tài chính.

Trên cơ sở đó, Nhà nước thực hiện điều chỉnh, hoàn thiện chính sách, cơ chế tài chính ngân sách thích ứng với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. -Thứ hai, quan hệ giữa ngân sách (Nhà nước) với các cơ quan chức năng của Nhà nước (các cơ quan quản lý Hành chính sự nghiệp hay các lĩnh vực không sản xuất vật chất). Các cơ quan này tuy không trực tiếp sản xuất và tạo ra nguồn lực tài chính trong gián tiếp cũng góp phần phát triển kinh tế thông qua các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội và an ninh - quốc phòng. Quan hệ ngân sách và các cơ quan chức năng của Nhà nước thông qua việc cấp phát kinh phí của ngân sách cho các đơn vị dự toán từ trung ương đến địa phương thuộc lĩnh vực quản lý 8 nhà nước, sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội,.

Các hoạt động này sẽ tạo ra các nguồn lực tài chính tiềm ẩn và tạo ra những tiềm năng cho phát triển kinh tế và khai thác gián tiếp các nguồn lực tài chính. Điều đó được giải thích khi mà tri thức và khoa học biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Do vậy, có thể coi đây cũng là quan hệ kinh tế của NSNN. Trong cơ chế kinh tế thị trường có quan hệ sau: Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các tổ chức xã hội.

Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các tầng lớp dân cư. Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trên thị trường tài chính. -Thứ ba, quan hệ giữa ngân sách với các tầng lớp dân cư thông qua nghĩa vụ nộp thuế, phí đối với các thể nhân; các hình thức tín dụng nhà nước (trái phiếu, tín phiếu,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ