MỞ ĐẦU Từ xưa đến nay, con người và rừng đã tồn tại như những bộ phận không thể tách rời của Hệ sinh thái nhân văn, mối quan hệ đó đặc biệt có ý nghĩa đối với các cộng đồng sống trong và gần rừng. Tài nguyên rừng không chỉ đáp ứng gỗ, củi đốt cho nhu cầu hàng ngày của cộng đồng, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho hàng triệu người đang sinh sống dựa vào rừng, mà phần lớn họ là những người nghèo và là người dân tộc thiểu số [19]. Theo thống kê của nhóm nghiên cứu lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn ở Việt Nam cho biết, số lượng người được coi là phụ thuộc vào rừng có thể giao động từ 15 đến 25 triệu người [32]. Vì vậy, các cộng đồng sống trong và gần rừng có ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại và phát triển của tài nguyên rừng.
Tuy nhiên, tác động của các cộng đồng vào rừng ở mỗi địa phương, mỗi dân tộc có những nét đặc trưng riêng thể hiện sự đa dạng, phức tạp của mối quan hệ giữa con người và tài nguyên rừng. Trong những năm gần đây, định hướng phát triển lâm nghiệp bền vững đã xuất hiện phương thức quản lý rừng cộng đồng có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý rừng của Việt Nam. Quản lý rừng cộng đồng là một phương thức quản lý rừng dựa vào kiến thức kinh nghiệm truyền thống và nguyện vọng của cộng đồng, để nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác chia sẻ kinh nghiệm cho cộng đồng và các bên liên quan, nhằm nâng cao tính tự chủ của cộng đồng trong quản lý sử dụng các nguồn tài nguyên bền vững và góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa của các cộng đồng dân tộc sống trong và gần rừng đã và đang được trung ương và địa phương quan tâm. Trên thực tế, hoạt động lâm nghiệp ở cơ sở chưa có phương pháp tiếp cận thích hợp; cộng đồng dân tộc thiểu số thay vì sử dụng những kiến thức kinh nghiệm về sinh thái, kỹ thuật, nhân văn để bảo vệ và phát triển rừng thì đứng ngoài cuộc; điều này đã làm mất đi một nguồn lực quan trọng trong phát triển rừng bền vững ở vùng cao.
Vì vậy để phát triển lâm nghiệp cộng đồng thì cần làm thế nào để cộng đồng có được một kế hoạch quản lý lâu dài, phù hợp với năng lực, kinh nghiệm và tổ chức thiết chế truyền thống của họ. 2 Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam được thực hiện từ khi Đảng và Nhà nước ban hành các chủ trương, chính sách phân cấp, phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng; về giao đất giao rừng và chính sách về chế độ hưởng lợi từ rừng cho người quản lý rừng; chủ trương về xã hội hóa nghề rừng và phát triển lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng. Đặc biệt là Luật đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004; gần đây nhất là Quyết định 106/2006/QĐ-BNN ngày 27/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn; Quyết định 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng trong phát triển lâm nghiệp cộng đồng.
Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về xã hội hóa công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng nghề rừng của dân, do dân, vì dân. Dak Lak là tỉnh miền núi Tây nguyên có diện tích đất tự nhiên là 1.537 ha, trong đó diện tích có rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp 750.982,3 ha (đất có rừng là 604.807,6 ha, đất chưa có rừng 146.174,7 ha); có 13 đơn vị hành chính cấp huyện (trong đó có 12 huyện và thành phố Buôn Ma Thuột); có 175 xã, phường, thị trấn, trong đó hầu hết các xã, phường, thị trấn đều có diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng để quản lý; có 2.188 thôn, buôn, tổ dân phố với 1.855 người và 44 dân tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn tỉnh, với nhiều phong tục tập quán khác nhau, phần lớn đồng bào dân tộc và dân di cư tự do đến từ các vùng miền khác nhau sinh sống gần rừng, cuộc sống người dân chủ yếu là dựa vào rừng để săn bắt, hái lượm, phát nương làm rẫy và lao động nghề rừng, đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế - xã hội của các xã và việc quản lý bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng. Trong những năm gần đây, ngành lâm nghiệp Dak Lak đã và đang thực hiện chương trình giao đất giao rừng có người dân tham gia và được hưởng lợi; theo đó rừng tự nhiên đã được giao cho các hộ gia đình cá nhân, nhóm hộ và cộng đồng thôn buôn có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ năm 1999 đến nay tỉnh đã tiến hành triển khai thí điểm chương trình giao khoán quản lý 3 bảo vệ rừng với 20.081 hộ, 10 nhóm hộ và 6 cộng đồng dân cư thôn buôn quản lý, bảo vệ và hưởng lợi từ rừng [29].
Tuy nhiên, chương trình này vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn, vì một số tồn tại sau: (i) Chính sách chưa phù hợp cho việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng; (ii) Kế hoạch chưa phù hợp với trình độ, năng lực quản lý bảo vệ rừng cho cộng đồng trong 5 năm và kế hoạch cụ thể cho từng năm; (iii) Cơ chế hưởng lợi hiện hành chưa phù hợp, còn một số bất cập và phần hưởng lợi của người nhận rừng thấp; (iv) Quy trình kỹ thuật để triển khai thực hiện các biện pháp trong quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng chưa phù hợp với trình độ, năng lực đối với cộng đồng; (v) Tổ chức thực hiện và giám sát quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng chưa phù hợp đối với cộng đồng. Điều này đã ảnh hưởng không tốt đến công tác bảo vệ và phát triển rừng; việc xây dựng kế hoạch chủ yếu dựa vào chỉ tiêu kinh tế là chính, ít quan tâm đến các yếu tố về xã hội, môi trường và kỹ thuật; hơn nữa, việc xây dựng kế hoạch chưa tính đến việc đảm bảo đời sống trước mắt cũng như sự phát triển lâu dài của cộng đồng; chưa kết hợp xây dựng các chương trình tổng hợp về phát triển quản lý rừng cộng đồng lồng ghép với chương trình của chính phủ. Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm phân tích, đánh giá cơ chế chính sách, cơ sở kinh tế - xã hội và tiến trình, nội dung, phương pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng là một trong những vấn đề cần thiết. Để góp phần vào việc bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập và bảo tồn văn hóa đối với cộng đồng sống gần rừng, thông qua đó giúp cho việc phục hồi và quản lý rừng có hiệu quả, cũng như kết hợp các thể chế chính sách của nhà nước và thiết chế ở địa phương để xây dựng một mô hình có thể bảo vệ và phát triển rừng bền vững và đảm bảo được lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của cộng đồng, đồng thời góp phần hoàn thiện các quy trình kỹ thuật đối với quản lý rừng cộng đồng, chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn cuối khóa: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại xã Ea Sol, huyện Ea H’ Leo, tỉnh Dak Lak”.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Năm 1970, khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng xuất hiện lần đầu tiên tại Ấn Độ, đã đƣợc tổ chức FAO nghiên cứu, quảng bá và nhân rộng. Hiện nay lâm nghiệp cộng đồng đƣợc áp dụng hầu hết ở các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển và đƣợc xem là một phƣơng thức quản lý rừng có hiệu quả. Hầu hết các quốc gia ASEAN đang có những chính sách để phân cấp, phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng, các quốc gia này đã thử nghiệm khá thành công cách tiếp cận có sự tham gia của ngƣời dân và chú ý đến kiến thức bản địa, nâng cao năng lực cho các cộng đồng thiểu số để xây dựng các mô hình quản lý rừng cộng đồng.
Một số nƣớc nhƣ Nêpal, Bangladesh, Philippin, Thái lan, Ấn độ, Inđônêxia. đã phát triển khá thành công các cách tiếp cận có sự tham gia và hình thành các định chế, phƣơng thức quản lý rừng cộng đồng, nhóm sử dụng rừng (Forest Use Group – FUG); RECOFTC – Trung tâm đào tạo lâm nghiệp cộng đồng trong khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng đã hơn 20 năm phát triển các phƣơng pháp luận tiếp cận có sự tham gia để quản lý rừng cộng đồng. Tháng 9/2001 tại Chiang Mai – Thái Lan đã tổ chức cuộc Hội thảo quốc tế về Lâm nghiệp cộng đồng, tại cuộc hội thảo này đã phản ánh nhu cầu phát triển phƣơng thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam; những vấn đề cần quan tâm để phát triển lâm nghiệp cộng đồng nhƣ: (i) Phân cấp và chuyển giao quyền sở hữu và sử dụng tài nguyên rừng cho cộng đồng. (ii) Xây dựng các mô hình hợp tác giữa các cộng đồng và các bên liên quan để phát triển lâm nghiệp cộng đồng.
(iii) Phát triển một hệ thống chính sách đồng bộ hỗ trợ cho phát triển lâm nghiệp cộng đồng. (iv) Phát triển các cách tiếp cận cả về kỹ thuật và xã hội để xây dựng các kế hoạch quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng. 5 Thực tế trên thế giới cho thấy đã có rất nhiều nghiên cứu về các khía cạnh cải tiến chính sách, thể chế, tiếp cận, phát triển công nghệ trên cơ sở kiến thức bản địa để phát triển quản lý rừng dựa vào cộng đồng. Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng một cách thích hợp vào Việt Nam.
Sau đây chúng tôi điểm qua các khía cạnh liên quan từ quan điểm, khái niệm, thể chế chính sách đến giải pháp lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng đã đƣợc phản ánh, nghiên cứu tổng kết ở nhiều nƣớc trên thế giới.