ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là nƣớc nằm trong vùng nhiệt đới có hệ sinh thái rừng phong phú và đa dạng. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nƣớc mặt và nƣớc ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nƣớc. Tuy nhiên trong nhiều thập kỷ qua, do quá trình khai thác sử dụng không bền vững đã làm cho diện tích và chất lƣợng rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Vấn đề suy giảm tài nguyên rừng hiện nay không chỉ còn là mối quan tâm của một tổ chức, một vùng hay của một quốc gia mà tình trạng này đã đƣợc xác định là vấn đề lớn của toàn cầu, là nỗi lo, mối quan tâm của toàn nhân loại.
Thực tế đã chứng tỏ rằng nếu chỉ sử dụng các biện pháp quản lý rừng (QLR) truyền thống nhƣ luật pháp, chƣơng trình, công ƣớc … thì khó có thể bảo vệ đƣợc số diện tích rừng còn lại của nhân loại, nhất là rừng nhiệt đới tập trung chủ yếu ở các nƣớc đang phát triển. Một trong những biện pháp quan trọng hiện nay và đƣợc cả cộng đồng quốc tế cũng nhƣ từng quốc gia đặc biệt quan tâm là cùng với những biện pháp truyền thống nêu trên, cần phải thiết lập quản lý rừng bền vững (QLRBV) và chứng chỉ rừng (CCR). Quản lý rừng bền vững là chƣơng trình của cộng đồng quốc tế do những tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân chế biến, tiêu thụ gỗ cam kết chỉ sử dụng và lƣu thông trên mọi thị trƣờng thế giới những sản phẩm gỗ nào đƣợc khai thác hợp pháp từ các khu rừng đã đƣợc quản lý bền vững. Muốn vậy, chứng chỉ rừng và chứng chỉ gỗ đƣợc áp dụng nhƣ là một công cụ hữu hiệu để buộc mọi chủ rừng/đơn vị quản lý rừng đảm bảo quản lý rừng bền vững về cả 3 phạm trù: kinh tế, môi trƣờng và xã hội.
Hiện nay Việt Nam là một trong số các quốc gia đã có hệ thống quản lý rừng khá hoàn chỉnh về chính sách, thể chế, tổ chức quản lý và phân cấp quản lý. Song, cũng là giai đoạn chuyển mạnh từ lâm nghiệp Nhà nƣớc sang lâm nghiệp xã hội; 2 chuyển lâm nghiệp khai thác lâm sản là chính, sang sử dụng tổng hợp rừng với cả 3 chức năng kinh tế, môi trƣờng, xã hội theo các tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững của Hội đồng Quản trị rừng thế giới (FSC) hay Chƣơng trình Chứng chỉ rừng châu Âu (PEFC) đang đƣợc sự ủng hộ mạnh mẽ trên thế giới. Quản lý rừng bền vững là sự đóng góp của ngành lâm nghiệp đối với sự phát triển, và sự phát triển đó đã mang lại lợi ích kinh tế, môi trƣờng và xã hội, đồng thời cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tƣơng lai. 43 năm qua, từ Lâm trƣờng Sơn Dƣơng nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH MTV) Lâm nghiệp Sơn Dƣơng, các thế hệ cán bộ, công nhân viên Công ty đã vƣợt qua những khó khăn, phát triển đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đƣợc giao.
Với chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là: Trồng và chăm sóc rừng; ƣơm giống cây lâm nghiệp; khai thác gỗ có nguồn gốc hợp pháp; hoạt động dịch vụ lâm nghiệp; bán buôn tre, nứa, gỗ cây và gỗ chế biến; tƣ vấn quản lý dự án, lập dự án đầu tƣ, lập dự toán công trình lâm sinh. Một vài năm trở lại đây đã từng bƣớc chuyển hƣớng sang trồng rừng, chăm sóc và quản lí rừng bền vững tuy nhiên trong quá trình thực hiện việc sắp xếp, đổi mới hoạt động, Công ty còn gặp phải rất nhiều khó khăn và vƣớng mắc. Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn phục vụ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC tại công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Dương, Thị trấn Sơn Dương,Huyện Sơn Dương, Tỉnh Tuyên Quang”. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Nhận thức về quản lý rừng bền vững 1. Nhận thức về quản lý rừng bền vững Quan điểm về quản lý rừng bền vững đã đƣợc hình thành từ đầu thế kỷ thứ 18 với sự nhận thức: rừng không phải là tài nguyên vô tận và đang bị suy giảm nghiêm trọng. Ban đầu, quan điểm bền vững chỉ chú trọng đến khai thác, sử dụng gỗ đƣợc lâu dài, liên tục. Cùng với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và phát triển kinh tế-xã hội, quản lý rừng bền vững đã chuyển từ quản lý kinh doanh gỗ sang quản lý kinh doanh nhiều mặt tài nguyên rừng, quản lý hệ thống sinh thái rừng và cuối cùng là quản lý rừng bền vững trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí đƣợc xác lập chặt chẽ, toàn diện về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trƣờng.
Có nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề quản lý rừng bền vững, nhƣng khái niệm đƣợc sử dụng nhiều nhất do ITTO (Hội đồng gỗ nhiệt đới quốc tế), nhƣ sau: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý rừng để đạt đượcmột hay nhiều mục tiêu cụ thể, xem xét đến việc phát triển sản xuất dịch vụ và sản phẩm lâm nghiệp đồng thời không làm giảm giá trị hiện có và ảnh hưởng đến năng suất sau này, cũng như không gây ra các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội” [7]. Các yếu tố làm cơ sở quản lý rừng bề vững Quản lý rừng bền vững là một quá trình và chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố, bao gồm: i) Khuôn khổ chính sách và pháp lý ii) Sản xuất lâm sản bền vững, iii) Bảo vệ môi trƣờng, iv) Lợi ích con ngƣời; và Một số cân nhắc khác áp dụng cụ thể đối với rừng trồng và tập trung vào: Quá trình quản lý rừng bền vững đƣợc xác lập trên cơ sở thiết lập quyền sở hữu/sử dụng cho các thành phần kinh tế lâm nghiệp cho đến khâu cuối cùng là đánh giá, giám sát và cấp chứng chỉ. Phát triển bền vững và QLRBV trên thế giới, đánh giá QLRBV và giám sát thực hiện sau khi đƣợc CCR của FSC 1. Về phát triển bền vững Những ý tƣởng hàm ý phát triển bền vững sớm xuất hiện trong xã hội loài ngƣời nhƣng phải đến thập niên đầu của thế kỷ XVIII, và chuyển hoá thành hành động và cao hơn là phong trào xã hội.
Tiên phong cho các trào lƣu này phải kể đến giới bảo vệ môi trƣờng ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Uỷ ban bảo vệ môi trƣờng Canada đƣợc thành lập năm 1915, nhằm khuyến khích con ngƣời tôn trọng những quy luật tự nhiên và cho rằng mỗi thế hệ có quyền khai thác lợi ích từ nguồn vốn thiên nhiên, nhƣng nguồn vốn này phải đƣợc duy trì nguyên vẹn cho những thế hệ tƣơng lai để họ hƣởng thụ và sử dụng theo một cách thức tƣơng tự. Trong báo cáo với nhan đề "Toàn thế giới bảo vệ động vật hoang dã", tại Hội nghị Paris (Pháp) năm 1928, Paul Sarasin - nhà bảo vệ môi trƣờng Thụy Sĩ đã đề cập đến việc cần phải bảo vệ thiên nhiên. Mối quan hệ giữa bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức quốc tế từ sau đại chiến thế giới II.
Các tổ chức này đã phối hợp chặt chẽ trong việc tìm hiểu diễn biến môi trƣờng tự nhiên, từ đó đƣa ra chƣơng trình hành động hƣớng các quốc gia phát triển theo mô hình bền vững. Năm 1951, UNESCO đã xuất bản một tài liệu đáng lƣu ý với tiêu đề "Thực trạng bảo vệ môi trường thiên nhiên trên thế giới vào những năm 50". Tài liệu này đƣợc cập nhật vào năm 1954 và đƣợc coi là một trong số những tài liệu quan trọng của "Hội nghị về môi trường con người" (1972) do Liên hiệp quốc tổ chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) và cũng đƣợc xem nhƣ là "tiền thân" của báo cáo Brundtland [6]. Đến đầu thập niên 80, thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên đƣợc sử dụng trong chiến lƣợc bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chƣơng trình môi trƣờng Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO với khái niệm đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác 5 động đến môi trường sinh thái học".
Tuy nhiên, khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ sau báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trƣờng và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) năm 1987. Theo Brundtland "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên đƣợc tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con ngƣời, động vật và thực vật. Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con ngƣời, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nƣớc giàu và nghèo, và giữa các thế hệ.
Nhƣ vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" đƣợc đề cập trong báo cáo Brundtlanđ với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trƣờng, mà còn phát triển kinh tế - xã hội. Nội dung khái niệm này còn bao hàm những khía cạnh chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội. Kể từ khi khái niệm này xuất hiện, nó đã gây đƣợc sự chú ý và thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại. Khái niệm phát triển bền vững trở thành khái niệm chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hƣớng, giải pháp tháo gỡ bế tắc trong các vấn đề phát triển.