mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Đề án được chia làm 3 Phần với nội dung cụ thể như sau Phần 1: Cơ sở xây dựng Đề án. Phần 2: Nội dung của Đề án. Phần 3: Một số đề xuất và kiến nghị. 5 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, NHTM luôn phải đối diện với nhiều loại rủi ro.
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là khả năng mà một tiến trình hoặc một sự kiện nào đó gây ra một kết cục không mong đợi lên tình hình tài chính của NHTM hoặc cản trở NHTM thực hiện các mục tiêu đã định. Theo Thông tư 13/2018/TT-NHNN ngày 18/5/2018 của Thống đốc NHNN Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của tổ chức tín dụng thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất (tổn thất tài chính, tổn thất phi tài chính) làm giảm thu nhập, vốn tự có dẫn đến làm giảm tỉ lệ an toàn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của ngân hàng thương mại” (NHNN, 2018).2 Phân loại rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng trong theo mục đích, tiêu chuẩn. Tuy nhiên, cách phân loại rủi ro tín dụng phổ biến hiện nay như sau: - Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây: + Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay giải ngân, theo dõi, giám sát khoản vay).
+ Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội 6 tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao). (Nguồn: Tham khảo) - Căn cứ phạm vi gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro tín dụng đặc thù và rủi ro tín dụng hệ thống: + Rủi ro tín dụng đặc thù là rủi ro của một khoản tín dụng cụ thể phát sinh do những kiểu đặc thù của rủi ro dự án mà người vay thực hiện. + Rủi ro tín dụng hệ thống là rủi ro tín dụng phát sinh do bối cảnh chung của nền kinh tế hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ những người vay như rủi ro tín dụng phát sinh do suy thoái kinh tế, khủng hoảng kinh tế, .3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là một loại rủi ro xảy ra khi một bên cho vay không thể thu hồi được khoản vay do bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Các nguyên nhân chính của rủi ro tín dụng gồm: Thứ nhất, khả năng tài chính yếu kém của bên vay Khả năng tài chính yếu kém là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng.
Các cá nhân hoặc doanh nghiệp vay vốn có thể gặp khó khăn trong việc duy trì dòng tiền hoặc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính do tình hình kinh tế hoặc quản lý tài chính yếu kém. Các doanh nghiệp không có chiến lược tài chính vững mạnh hoặc các cá nhân không có nguồn thu nhập ổn định có thể gặp phải tình trạng không thể trả nợ khi đến hạn. Đặc biệt là trong các trường hợp doanh nghiệp đối mặt với tình trạng phá sản hoặc mất khả năng thanh toán, thì nguy cơ rủi ro tín dụng là rất cao. Thứ hai, biến động kinh tế vĩ mô Kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng lớn đến rủi ro tín dụng.
Các biến động kinh tế như suy thoái kinh tế, lạm phát tăng cao, chính sách tài khóa không ổn định, hoặc khủng hoảng tài chính có thể làm giảm khả năng trả nợ của bên vay. Các doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự giảm sút nhu cầu sản phẩm, giảm lợi nhuận, hoặc chi phí sản xuất tăng cao. Hơn nữa, các yếu tố như thay đổi lãi suất, tỷ giá hối đoái, hay các chính sách của chính phủ cũng có thể tác động tiêu cực đến khả năng thanh toán của các bên vay, làm gia tăng nguy cơ mất vốn cho các tổ chức tín dụng. Thứ ba, thiếu thông tin chính xác về bên vay 7 Thiếu thông tin chính xác và đầy đủ về bên vay là một nguyên nhân quan trọng khác dẫn đến rủi ro tín dụng.
Nếu các tổ chức tín dụng không thể đánh giá đúng tình hình tài chính, năng lực trả nợ của bên vay, họ sẽ đối mặt với rủi ro cao trong việc quyết định cho vay. Việc không có sự kiểm tra kỹ lưỡng về lịch sử tín dụng, báo cáo tài chính, và các yếu tố khác liên quan đến tình hình tài chính của bên vay sẽ làm tăng nguy cơ không thu hồi được khoản vay. Điều này đặc biệt quan trọng trong các khoản vay cho các doanh nghiệp nhỏ hoặc những cá nhân mới ra đời, khi không có nhiều dữ liệu đáng tin cậy để tham khảo. Thứ 4, quản lý rủi ro yếu kém Quản lý rủi ro yếu kém trong các tổ chức tín dụng cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến rủi ro tín dụng.
Nếu các tổ chức tín dụng không thực hiện đầy đủ các quy trình đánh giá rủi ro, không có chiến lược phòng ngừa phù hợp, hoặc không giám sát chặt chẽ các khoản vay, khả năng xảy ra rủi ro tín dụng sẽ cao hơn. Ngoài ra, việc thiếu các biện pháp phòng ngừa như bảo lãnh, thế chấp, hoặc các hình thức đảm bảo khác sẽ khiến các khoản vay trở nên rủi ro hơn. Quản lý rủi ro không hiệu quả có thể dẫn đến việc chấp nhận các khoản vay có mức độ rủi ro cao hơn mức có thể chấp nhận, làm gia tăng khả năng mất mát tài chính. Thứ năm, các yếu tố chủ quan từ bên vay Yếu tố chủ quan từ bên vay, như sự quản lý yếu kém, gian lận hoặc các hành vi thiếu trung thực trong việc báo cáo tài chính, cũng có thể dẫn đến rủi ro tín dụng.
Doanh nghiệp hoặc cá nhân có thể che giấu thông tin tài chính không đầy đủ hoặc không chính xác để được vay vốn, nhưng sau khi vay, họ có thể không có khả năng trả nợ hoặc làm sai lệch thông tin trong quá trình kiểm tra tín dụng. Các yếu tố như quản lý yếu, thiếu kế hoạch tài chính, hoặc tham nhũng cũng có thể làm gia tăng rủi ro cho các tổ chức tín dụng.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng - Đối với nền kinh tế: Rủi ro tín dụng trong ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng mà còn tác động trực tiếp đến quyền lợi của người gửi tiền và nền kinh tế. Khi ngân hàng gặp rủi ro hoặc mất khả năng thanh toán, sự hoang mang khiến người dân ồ ạt rút tiền, gây khó khăn cho cả hệ thống ngân hàng. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, đời sống người lao động và có thể dẫn đến suy thoái kinh tế.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng còn lan rộng, tác động tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu, như các cuộc khủng hoảng tài chính đã từng xảy ra. - Đối với ngân hàng: Rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất mát về mặt tài 8 chính mà ngân hàng phải gánh chịu liên quan tới việc người vay vốn không trả đúng hạn hay không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Nói như vậy hàm ý rủi ro tín dụng có ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chính của ngân hàng. Rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ, không thu hồi vốn hoặc mất vốn.
Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị mất khả năng thanh toán “phá sản”, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. - Đối với khách hàng: Đối với bản thân khách hàng không có khả năng hoàn trả vốn (lãi) cho ngân hàng thì họ gần như không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là cả những nguồn khác trong nền kinh tế do đã mất đi uy tín. Cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các khách hàng đi vay khác cũng bị hạn chế hơn khi rủi ro tín dụng buộc các NHTM hoặc thắt cho vay hay thậm chí phải thu hẹp quy mô hoạt động. Các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền gửi và lãi nếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán.2 Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Những nhận thức về quản lý RRTD của ngân hàng thương mại Quản lý rủi ro tín dụng là “Quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.
Đồng thời, phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM” (Nguyễn Văn Tiến, 2010).