Luận văn Quản lý nhà nước về giáo dục từ thực tiễn huyện Krông Búk, Đắk Lắk

Tài liệu nghiên cứu Luận văn Quản lý nhà nước về giáo dục tại Krông Búk mang tính hệ thống, nâng cao năng lực chuyên môn hỗ trợ đào tạo hiệu quả

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn quản lý nhà nước về giáo dục Krông Búk tổng quan

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật hiến pháp và luật hành chính với đề tài “Quản lý nhà nước về giáo dục từ thực tiễn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk” là một công trình nghiên cứu khoa học, chi tiết và chuyên sâu. Đề tài tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý giáo dục ở cấp huyện, một nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển sự nghiệp giáo dục quốc gia. Bối cảnh nghiên cứu được đặt trong giai đoạn 2015-2019, thời điểm ngành giáo dục triển khai nhiều chính sách đổi mới quan trọng theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW. Luận văn khẳng định rằng, quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là sự tác động có tổ chức, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các hoạt động giáo dục, nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Hoạt động này chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như thể chế chính trị - xã hội, trình độ phát triển kinh tế, và đặc biệt là năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Tại huyện Krông Búk, công tác này do UBND huyện Krông BúkPhòng Giáo dục và Đào tạo trực tiếp chỉ đạo, thực hiện theo phân cấp quy định tại Nghị định 127/2018/NĐ-CP. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh địa phương có nhiều đặc thù về kinh tế, xã hội và văn hóa, nhất là các vấn đề liên quan đến giáo dục vùng dân tộc thiểu số.

1.1. Khám phá cơ sở lý luận về công tác quản lý giáo dục

Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về giáo dục được xây dựng trên quan điểm của Đảng và Nhà nước, xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Luận văn trích dẫn tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, nhấn mạnh vai trò chiến lược của giáo dục đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Theo Luật Giáo dục 2019, nội dung quản lý nhà nước bao gồm việc xây dựng chiến lược, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định tiêu chuẩn nhà giáo, tổ chức bộ máy và huy động nguồn lực. Các công cụ quản lý chính được sử dụng là công cụ pháp luật, công cụ tổ chức, công cụ kinh tế và công cụ tâm lý – xã hội. Việc vận dụng các công cụ này đòi hỏi sự linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn để đảm bảo tính pháp chế và hiệu quả, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội Đắk Lắk.

1.2. Vai trò cốt lõi của chính sách giáo dục địa phương

Chính sách giáo dục địa phương đóng vai trò cụ thể hóa đường lối, chủ trương chung của trung ương vào điều kiện thực tế của huyện Krông Búk. Các chính sách này phải giải quyết được những vấn đề đặc thù như chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các vùng, điều kiện cơ sở vật chất trường học còn thiếu thốn, và nhu cầu học tập của học sinh dân tộc thiểu số. Luận văn chỉ ra rằng, UBND huyện và Phòng Giáo dục và Đào tạo cần chủ động tham mưu, ban hành các kế hoạch, đề án phù hợp nhằm thu hút đầu tư, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, và xây dựng đội ngũ giáo viên đủ năng lực. Hiệu quả của các chính sách này là thước đo trực tiếp năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương, quyết định đến sự thành công của mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

II. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục Krông Búk

Giai đoạn 2015-2019, công tác quản lý giáo dục tại huyện Krông Búk đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn đối mặt với không ít thách thức. Luận văn cung cấp một bức tranh toàn diện về thực trạng giáo dục huyện Krông Búk, chỉ ra những điểm sáng và các tồn tại, hạn chế cần khắc phục. Về thành tựu, mạng lưới trường lớp được mở rộng, đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của người dân. Chất lượng dạy và học từng bước được cải thiện, thể hiện qua tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình và tốt nghiệp THCS ở mức cao (99,6%). Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những bất cập lớn. Cơ sở vật chất trường học ở một số nơi còn thiếu thốn, lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Chất lượng giáo dục chưa đồng đều, đặc biệt tại các xã vùng sâu, vùng xa, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Tình trạng duy trì sĩ số học sinh vẫn còn khó khăn. Một bộ phận trong đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ, tin học, lúng túng khi áp dụng các phương pháp dạy học mới. Nguồn ngân sách đầu tư cho giáo dục tuy tăng nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục. Đây là những rào cản chính cần có giải pháp đột phá để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục.

2.1. Đánh giá công tác quản lý về đội ngũ nhà giáo CBQL

Luận văn chỉ rõ, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên của huyện Krông Búk đủ về số lượng theo quy định, 100% cán bộ quản lý đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn. Tuy nhiên, chất lượng chưa thực sự đồng đều. Dữ liệu từ Bảng 2.1, 2.2 và 2.3 cho thấy cơ cấu cán bộ quản lý giữa các bậc học có sự khác biệt. Ví dụ, bậc Mầm non có 100% cán bộ quản lý là nữ, trong khi bậc THCS tỷ lệ nam chiếm đến 82%. Vấn đề không chỉ nằm ở cơ cấu mà còn ở năng lực thực tiễn. Một bộ phận giáo viên còn hạn chế về năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ, ảnh hưởng đến việc thực hiện đổi mới quản lý giáo dục. Việc quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ quản lý kế cận còn hạn chế, thiếu sự tham mưu, đề xuất kịp thời từ các bộ phận chuyên môn.

2.2. Hạn chế về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học

Mặc dù được quan tâm đầu tư, cơ sở vật chất trường học tại Krông Búk vẫn là một điểm nghẽn. Luận văn trích dẫn số liệu: "Tính đến năm 2019 toàn huyện Bậc học Mầm non có 0/11 Trường đạt chuẩn Quốc gia đạt tỷ lệ 0%". Trang thiết bị dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu của chương trình mới, đặc biệt là các phòng học bộ môn, thiết bị thực hành. Bảng 2.4 cho thấy số phòng học bộ môn ở bậc Mầm non (10) và Tiểu học (15) còn rất ít so với quy mô. Nguồn vốn đầu tư chủ yếu từ ngân sách nhà nước, trong khi việc huy động nguồn lực qua xã hội hóa giáo dục còn hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng của cộng đồng và doanh nghiệp.

2.3. Thách thức trong giáo dục vùng dân tộc thiểu số

Với 35,4% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, giáo dục vùng dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và khó khăn tại Krông Búk. Những thách thức chính bao gồm: tỷ lệ duy trì sĩ số học sinh còn thấp ở một số nơi, nhiều phụ huynh còn mang tư tưởng “khoán trắng” cho nhà trường, và rào cản ngôn ngữ. Việc triển khai các chính sách giáo dục địa phương đặc thù cho vùng này cần được quan tâm hơn nữa. Mô hình trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú đã phát huy hiệu quả nhưng cần được nhân rộng và đầu tư mạnh mẽ hơn để đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.

III. Phương pháp đổi mới quản lý giáo dục từ thực tiễn Krông Búk

Để vượt qua các thách thức, luận văn đề xuất một hệ thống các phương pháp, giải pháp nhằm đổi mới quản lý giáo dục một cách căn bản và toàn diện tại huyện Krông Búk. Trọng tâm của các giải pháp này là nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các chủ thể quản lý, đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách để tạo động lực cho sự phát triển. Một trong những phương pháp then chốt là tăng cường phân cấp, giao quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình cho các cơ sở giáo dục. Các trường học cần được chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục, sử dụng ngân sách và phát triển đội ngũ, từ đó phát huy sự sáng tạo và linh hoạt. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý giáo dục là một yêu cầu cấp thiết. Xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, triển khai các phần mềm quản lý trường học, tổ chức dạy và học trực tuyến sẽ giúp tối ưu hóa quy trình, giảm tải hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện cần đóng vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để đảm bảo kỷ cương và chất lượng. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, đổi mới phải bắt đầu từ tư duy của người lãnh đạo, từ đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục.

3.1. Hoàn thiện bộ máy quản lý của Phòng GD ĐT huyện

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, việc kiện toàn tổ chức bộ máy của Phòng Giáo dục và Đào tạo là ưu tiên hàng đầu. Luận văn đề xuất cần rà soát, quy định lại chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận một cách rõ ràng, tránh chồng chéo. Cần xây dựng đội ngũ chuyên viên đủ năng lực, có tầm nhìn để tham mưu cho UBND huyện Krông Búk về các chiến lược phát triển giáo dục dài hạn. Đặc biệt, cần tăng cường năng lực chỉ đạo chuyên môn, hỗ trợ các trường trong việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới và thực hiện công tác kiểm định chất lượng giáo dục.

3.2. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục

Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là yếu tố quyết định thành công của quá trình đổi mới. Giải pháp được đề xuất là xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên theo chuẩn nghề nghiệp. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào các kỹ năng quản trị trường học hiện đại, kỹ năng lãnh đạo, khả năng xây dựng chiến lược và kỹ năng ứng dụng công nghệ. Đồng thời, cần có chính sách thu hút, đãi ngộ hợp lý để giữ chân và phát huy năng lực của những cán bộ quản lý giỏi, tâm huyết, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho toàn ngành.

IV. Bí quyết nâng cao chất lượng dạy và học tại huyện Krông Búk

Chất lượng giáo dục là mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động quản lý. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục này đã đề xuất nhiều giải pháp mang tính chiến lược nhằm nâng cao toàn diện chất lượng dạy và học tại Krông Búk. Nền tảng của các giải pháp này là tập trung vào hai yếu tố cốt lõi: con người và cơ sở vật chất. Đối với con người, cần tập trung vào việc phát triển chuyên môn cho giáo viên, khuyến khích đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm, tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Đối với cơ sở vật chất trường học, giải pháp không chỉ dừng lại ở việc trông chờ vào ngân sách nhà nước mà phải chủ động, sáng tạo trong việc huy động các nguồn lực xã hội. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục được xem là một bí quyết quan trọng, giúp các trường có thêm kinh phí để xây dựng, sửa chữa phòng học, mua sắm trang thiết bị hiện đại, và tổ chức các hoạt động giáo dục ngoại khóa. Việc đánh giá công tác quản lý và chất lượng giáo dục cần được thực hiện thường xuyên, khách quan thông qua công tác kiểm định chất lượng và các kỳ thi, khảo sát độc lập. Kết quả đánh giá phải được sử dụng làm cơ sở để điều chỉnh chính sách giáo dục địa phương, khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể làm tốt và có giải pháp hỗ trợ các đơn vị còn yếu kém.

4.1. Giải pháp đầu tư hiệu quả cơ sở vật chất trường học

Giải pháp đầu tư cơ sở vật chất trường học cần được thực hiện theo lộ trình và có trọng tâm, trọng điểm. Ưu tiên nguồn lực để kiên cố hóa trường lớp, xóa bỏ các phòng học tạm, xây dựng đủ phòng học bộ môn theo tiêu chuẩn. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lập quy hoạch mạng lưới trường lớp hợp lý, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bên cạnh ngân sách từ UBND huyện, cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư vào giáo dục, đặc biệt là xây dựng các trường mầm non tư thục chất lượng cao để giảm tải cho hệ thống công lập.

4.2. Đẩy mạnh và đa dạng hóa xã hội hóa giáo dục

Xã hội hóa giáo dục là giải pháp đột phá để huy động nguồn lực tổng hợp cho phát triển sự nghiệp giáo dục. Cần đa dạng hóa các hình thức xã hội hóa: khuyến khích thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh hoạt động hiệu quả; vận động các doanh nghiệp trên địa bàn tài trợ học bổng, trang thiết bị; kêu gọi các nhà hảo tâm, cựu học sinh đóng góp xây dựng trường. Dữ liệu từ Bảng 2.5 cho thấy trong năm học 2019-2020, nguồn xã hội hóa huy động được là 2,334 tỷ đồng, một con số đáng khích lệ nhưng vẫn còn nhiều tiềm năng. Để phát huy hiệu quả, cần đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng các nguồn đóng góp.

V. Đánh giá hiệu quả quản lý giáo dục qua kinh nghiệm thực tiễn

Luận văn không chỉ dừng lại ở việc phân tích lý thuyết và thực trạng mà còn tiến hành đánh giá công tác quản lý một cách khách quan dựa trên những kết quả cụ thể. Hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục tại huyện Krông Búk được thể hiện rõ nét qua sự chuyển biến tích cực trong hệ thống giáo dục địa phương. Mạng lưới trường lớp được duy trì và phát triển, đặc biệt là việc thành lập trường Phổ thông dân tộc nội trú và bán trú, tạo điều kiện học tập tốt hơn cho học sinh vùng khó khăn. Chất lượng giáo dục đại trà được giữ vững và nâng cao, tỷ lệ học sinh yếu kém giảm, học sinh khá giỏi tăng. Công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ đạt được những thành tựu quan trọng. Những kết quả này là minh chứng cho sự nỗ lực của toàn ngành giáo dục huyện, dưới sự chỉ đạo của UBND huyện Krông BúkPhòng Giáo dục và Đào tạo. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn cũng chỉ ra rằng hiệu quả quản lý vẫn chưa đạt kỳ vọng ở một số mặt như xây dựng trường chuẩn quốc gia (bậc Mầm non chưa có trường nào đạt chuẩn), chất lượng giáo dục mũi nhọn còn thấp, và việc huy động nguồn lực xã hội còn chưa tương xứng với tiềm năng. Những bài học rút ra từ luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục này là cơ sở quan trọng để các nhà quản lý hoạch định chính sách phù hợp hơn trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Những kết quả đạt được trong phát triển sự nghiệp giáo dục

Giai đoạn 2015-2019 chứng kiến sự phát triển sự nghiệp giáo dục của huyện Krông Búk trên nhiều phương diện. Chất lượng giáo dục đại trà có nhiều chuyển biến, học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100%, học sinh tốt nghiệp THCS đạt 99,6%. Công tác kiểm định chất lượng giáo dục được quan tâm, với 37 trường đã được đánh giá. Việc đầu tư cơ sở vật chất được chú trọng, với tổng kinh phí đầu tư từ UBND huyện và Sở GD&ĐT là rất lớn, góp phần cải thiện điều kiện dạy và học. Đây là những thành quả đáng ghi nhận, tạo nền tảng vững chắc cho các bước phát triển tiếp theo.

5.2. Bài học kinh nghiệm thực tiễn và các kiến nghị

Từ kinh nghiệm thực tiễn, luận văn rút ra nhiều bài học quý báu. Thứ nhất, đổi mới quản lý giáo dục phải được tiến hành đồng bộ từ cấp huyện đến từng trường học. Thứ hai, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục và các ban, ngành, đoàn thể khác, đặc biệt trong công tác vận động học sinh ra lớp và xã hội hóa giáo dục. Thứ ba, chính sách phải bám sát thực tiễn, đặc biệt quan tâm đến giáo dục vùng dân tộc thiểu số. Dựa trên các phân tích, luận văn đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Đắk Lắk một cách bền vững.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, vị trí và đặc điểm cơ bản về giáo dục 1. Khái nhiệm về quản lý hành chính nhà nước Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp, là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ từ trung ương đến cơ sở tiến hành, để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự pháp luật, thảo mãn những nhu cầu hợp pháp của nhân dân [20] 1. Khái niệm QLNN về giáo dục Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục Nhà nước.

Quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo, do các cơ quan quản lý giáo dục của nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, duy trì trật tự, kỉ cương, thỏa mãn nhu cầu giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của nhà nước. Đặc điểm của QLNN về giáo dục - Đặc điểm kết hợp quản lý hành chính và quản lí chuyên môn trong các hoạt động quản lý giáo dục. Nó vừa theo nguyên tắc quản lý hành chính giáo dục đối với một cơ sở giáo dục. Hành chính giáo dục thực chất là triển khai chức năng, nhiệm vụ quyền hạn do Nhà nước qui định.

Các cơ quan, tổ chức thay mặt Nhà nước điều 8 hành, điều chỉnh các hoạt động giáo dục và đào tạo. QLNN về giáo dục thực chất là quản lý các hoạt động hành chính – giáo dục, vì vậy nó có hai mặt thâm nhập vào nhau, đó là quản lý hành chính sự nghiệp giáo dục và quản lý chuyên môn trong quá trình giáo dục - Đặc điểm về tính quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lí Đó là tính quyền lực nhà nước trong các hoạt động quản lí được thể hiện ở một số vấn đề cơ bản như: Điều kiện để triển khai quản lí nhà nước là phải có tư cách pháp nhân và yêu cầu về tính hợp pháp trong quản lí là yêu cầu trước hết. Muốn có tư cách pháp nhân để quản lí phải được bổ nhiệm và khi đã được bổ nhiệm cần phải thực hiện đúng, đủ chức năng, thẩm quyền. Không lạm quyền cũng không đùn đẩy trách nhiệm; thực hiện đúng chế độ thủ trưởng trong việc ra quyết định và trong việc chịu trách nhiệm về các quyết định quản lí trước tập thể và cấp trên.

Trong QLNN sẽ không có tư cách pháp nhân để "ra quyền” khi chưa được bổ nhiệm. Tuy nhiên, mỗi tư cách pháp nhân đều có trách nhiệm và quyền hạn tương ứng, việc hiểu cho đúng, làm cho đủ “thẩm quyền” là thước đo khả năng “sử dụng quyền lực nhà nước” của một tư cách pháp nhân. Trong thực tế “Phép vua thua lệ làng”, “thủ kho to hơn thủ trưởng” đều phát sinh do không nhận thức đúng “tính quyền lực nhà nước trong các hoạt động quản lí”. “Thoái quyền” và “lạm quyền” là hai thái cực của sự vi phạm “thẩm quyền”, mặt khác khái niệm “thẩm quyền” cũng gắn với sự phân cấp và tuân thủ thứ bậc chặt chẽ trong QLNN.

Phương tiện QLNN về GD-ĐT là các văn bản pháp luật và pháp qui. Phương pháp chủ yếu để QLNN là phương pháp Hành chính - Tổ chức. Cần nhận thức rằng tháp luật, pháp quy là sự cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước; phản ánh lợi ích của toàn dân, vì vậy đây chính là hành lang pháp lí cho việc triển khai các hoạt động QLGD, bảo đảm tính quyền lực nhà nước trong quản lí. Việc không tuân thủ hành lang pháp lí trong các hoạt động 9 QLGD tức là vi phạm trật tự kỷ cương và sẽ bị xử lí theo quy định của pháp luật.

Trong QLNN phải tuân thủ thứ bậc chặt chẽ hoạt động quản lí theo sự phân cấp rõ ràng và mệnh lệnh - phục tùng là biểu hiện rõ nhất của tính quyền lực trong QLNN. Tính quyền lực nhà nước ở đây cũng chính là việc CBQL GD cấp phòng cần nhận thức đầy đủ rằng cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng trung ương trong quá trình QLGD. - Đặc điểm kết hợp Nhà nước – xã hội trong quá trình triển khai quản lý nhà nước về giáo dục QLNN về Giáo dục và đào tạo là thực hiện chức năng - nhiệm vụ thẩm quyền do Nhà nước qui định, phân cấp trong các hoạt động QLGD. Ở một cơ sở giáo dục, QLNN về GD&ĐT thực chất là quản lí các hoạt động HC-GD, vì vậy nó có hai mặt quản lí thâm nhập vào nhau, đó là QLHC sự nghiệp giáo dục và QLCM trong quá trình sư phạm.

Vị trí, vai trò của QLNN về giáo dục Giáo dục có vai trò quyết định đối với việc hình thành quy mô và chất lượng nguồn nhân lực của đất nước. Như vậy Nhà nước với vai trò quản lý vĩ mô sự phát triển của đất nước phải hoạch định ra chiến lược phát triển lĩnh vực quan trọng này cho một tương lai lâu dài. Giáo dục và đào tạo có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, trong luận văn này xin trình bày ba vấn đề cơ bản. Một là giáo dục và đào tạo là động lực, là đòn bẩy mọi sự phát triển của xã hội, của đất nước; Hai là, giáo dục và đào tạo là thước đo sự phát triển của mọi đất nước; Ba là, giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục 10 Giáo dục và đào tạo được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, coi đó là chìa khóa để thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Giáo dục, đào tạo có vai trò quan trọng đối với quốc gia dân tộc, nhận thức rõ vai trò của giáo dục, đào tạo đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, theo mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta luôn quan tâm chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực quan trọng này. Nghị Quyết 29/NQ-TW Ban chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT” đã nhấn mạnh chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển GD-ĐT [1] Đại hội XII của Đảng đã xác định đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực là một trong những định hướng lớn để hiện thực hóa mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Quan điểm về giáo dục đào tạo trong văn kiện Đại hội XII của Đảng là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng, được thể hiện ở một số nội dung như sau: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; Giáo dục là quốc sách hàng đầu; Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lực của người học; Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; Đổi mới căn bản công tác giáo dục, đào tạo; Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo; Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục, đào tạo. Mục tiêu phát triển về giáo dục 11 Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập. Quy mô giáo dục phát triển hợp lý, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đổi mới nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo phát triển đội ngũ nhà giáo yêu cầu vừa tăng quy mô, nâng cao chất lượng, hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới quản lý giáo dục.

Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hoá, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào taọ; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Căn cứ Quyết định số 2161/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kế hoạch thực hiện mục tiêu phát triển bền vững lĩnh vực giáo dục và đào tạo đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ