CHƯƠNG 1 HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH TẠI TỈNH QUẢNG NAM 1.1 Tình hình thực tế nghành xây dựng tại địa bàn tỉnh Quảng Nam. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và công tác đầu tư xây dựng cơ bản tại địa phương những năm gần đây Một trong những mục tiêu quan trọng của phương hướng chung về phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tỉnh công nghiệp, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế. Trong những năm qua xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tích cực và rỏ nét, nhất là cơ cấu ngành. Tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ chiếm trong tổng GDP đã tăng dần lên qua các năm, giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp, trong khi vẫn duy trì được tốc độ tăng của ba khu vực và các ngành kinh tế.
Theo báo cáo về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XX [8] thì nền kinh tế của Tỉnh giai đoạn 2010- 2015 được duy trì với tốc độ tăng trưởng khá, bình quân đạt 11,5%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực (công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm 84%, nông nghiệp chiếm 16%). Thu ngân sách trên địa bàn vào nhóm các tỉnh khá của cả nước. Các nhiệm vụ đột phá được tập trung lãnh đạo tổ chức thực hiện quyết liệt, đạt được những kết quả quan trọng, tạo thế và lực để phát triển mạnh hơn trong giai đoạn tới.
Tiếp tục phấn đấu đến năm 2020 Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân (theo phương pháp tính mới) từ 10 - 10,5%/năm. GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt từ 75 – 80 triệu đồng (tương đương 3. Tỷ trọng các ngành trong GRDP: nông nghiệp khoảng 10%, công nghiệp - xây dựng khoảng 46%, dịch vụ khoảng 4 44%. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên 16%/năm.
Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân trên 15%/năm. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm trên 30% GRDP. Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc cơ cấu lại kinh tế và đầu tư công theo hướng tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ đột phá, ưu tiên cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở các vùng kinh tế trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, miền núi. Giảm dần tỷ trọng đầu tư của Nhà nước trong tổng đầu tư toàn xã hội; đồng thời mở rộng xã hội hóa đầu tư.
Tập trung đầu tư hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối giữa các vùng của tỉnh và với các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và liên vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên. Đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm chuyển tiếp của tỉnh, phối hợp với Trung ương đầu tư nâng cấp, mở rộng quốc lộ 14D và Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang để đẩy mạnh hợp tác phát triển với các tỉnh của Lào và Thái Lan. Phát triển kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, hạ tầng đô thị, nhất là đô thị tỉnh lỵ, hạ tầng khu vực nông thôn và miền núi; xúc tiến kêu gọi đầu tư nâng cấp Cảng Kỳ Hà, Cảng hàng không quốc tế Chu Lai thành trung tâm trung chuyển hàng hóa của khu vực. Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; xây dựng Quảng Nam trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước.
Nâng cấp hạ tầng các khu vực có tiềm năng phát triển du lịch, nhất là ở khu vực Hội An, khu vực ven biển; đồng thời, mở rộng không gian phát triển du lịch về phía Nam và phía Tây của tỉnh. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, vận tải, bưu chính, viễn thông,. Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2016-2020 của Hội đồng nhân nhân tỉnh Quảng Nam [9]cũng ưu tiên: - Xúc tiến các dự án mới về mở rộng không gian du lịch Nam Hội An, khu liên hợp công nghiệp dệt may tại Khu công nghiệp Tam Thăng, công 5 nghiệp khí điện Tam Quang. Tăng cường các mối quan hệ liên kết thúc đẩy phát triển khu vực công nghiệp - du lịch Hội An - Điện Nam - Điện Ngọc, Khu Kinh tế mở Chu Lai và thành phố Tam Kỳ.
- Tập trung xây dựng, phát triển nâng cấp hệ thống mạng lưới cơ sở hạ tầng quan trọng; các dự án chống xói lở bờ sông, đê biển; hạ tầng kỹ thuật các đô thị, khu công nghiệp và các khu, điểm du lịch, các khu neo đậu tàu thuyền, hậu cần nghề cá. - Tăng cường các sáng kiến về tăng trưởng xanh trong quy hoạch và phát triển các đô thị động lực, đặc biệt là Hội An và Tam Kỳ theo hướng văn minh, hiện đại, đạt tiêu chí đô thị loại II. Ưu tiên cải tạo, nâng cấp các trục đường chính ra vào đô thị, đặc biệt là Hội An và Tam Kỳ bằng các chương trình từ ngân sách nhà nước và dự án ODA. Phấn đấu xây dựng, phát triển các đô thị.
Còn theo Báo cáo đánh giá giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015-2020 [2]: - Nhiều tuyến giao thông quan trọng đã hoàn thành đưa vào sử dụng như: Cầu Cửa Đại và Đường ven biển, cầu Giao Thủy, đường ĐT610 đoạn nối Duy Xuyên với Nông Sơn, đường ĐT605, ĐT 608; các tuyến Trung ương đầu tư trên địa bàn như Đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, mở rộng, nâng cấp Quốc lộ 1. Triển khai đầu tư dự án Đường ĐT.607, cảng các Tam Quang, các tuyến nối từ Đường ven biển với QL1 và Cao tốc. Tiếp tục thực hiện một số dự án theo kế hoạch đầu tư công trung hạn, nhất là các trục giao thông khu vực miền núi như đường Tam Trà – Trà Cót, đường Trà My – Phước Thành, cầu Nông Sơn. - Hạ tầng các Khu công nghiệp, khu kinh tế tiếp tục được quan tâm đầu tư.
Toàn tỉnh hiện có 9 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích quy hoạch 4. Đến nay có 7 khu đã đi vào hoạt động, diện tích đất sử dụng khoảng 6 1.026 ha, số lao động sử dụng khoảng 40. Tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp khoảng 51,2%. Ngoài ra, có 55 cụm công nghiệp đang triển khai thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng và đi vào hoạt động với diện tích 1.402 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp 964 ha.
Tỉ lệ lấp đầy bình quân của các cụm công nghiệp đi vào hoạt động đạt 66,4%. Tuy nhiên cũng vì với rất nhiều dự án đã và đang được triển khai trong giai đoạn vừa qua, công tác quản lý, sử dụng vốn tại Tỉnh vẫn chưa được tốt, vẫn còn chậm giải ngân vốn đầu tư công. Điển hình, theo Báo cáo giám sát đánh giá tổng thể 06 tháng đầu năm 2019 [1], còn nhiều dự án bị nợ khối lượng hoàn thành được Sở Kế hoạch và và Đầu tư tổng hợp từ báo cáo của các chủ đầu tư là 1.218,2 tỷ đồng, giảm 11,5 tỷ đồng so với nợ khối lượng hoàn thành đến hết quý I năm 2019 (nợ khối lượng hoàn thành đến hết quý I năm 2019 là 1.229,8 tỷ đồng), trong đó khối ngành tăng 20,2 tỷ đồng, khối huyện giảm 31,8 tỷ đồng. Cụ thể: - Cấp tỉnh: Nợ khối lượng hoàn thành 625,3 tỷ đồng, trong đó một số chủ đầu tư có khối lượng nợ lớn như: Ban Quản lý khu kinh tế mở Chu Lai 443 tỷ đồng (nợ chủ yếu của dự án cầu Cửa Đại 170,3 tỷ đồng; dự án phòng chống lụt bão, đường cứu hộ, cứu nạn Tam Kỳ 111,6 tỷ đồng; dự án nạo vét luồng vào cảng Kỳ Hà 72,5 tỷ đồng); Sở Giao thông Vận tải 71,1 tỷ đồng (nợ chủ yếu của dự án đường vào trung tâm xã AXan nối xã Ch'Om đến cửa khẩu phụ Tây Giang 19,9 tỷ đồng; nâng cấp mở rộng đường vào trung tâm du lịch phố cổ Hội An - Tuyến ĐT608, đoạn từ Km4+714 - Km7+956,54 là 15,9 tỷ đồng; nợ khối lượng hoàn thành các dự án này từ nguồn ngân sách trung ương); Sở Y tế 22,9 tỷ đồng (nợ chủ yếu của dự án nâng cấp bệnh viện Nhi thành bệnh viện Sản - Nhi 13,3 tỷ đồng và nợ từ nguồn ngân sách trung ương); Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch 20,7 tỷ đồng.
7 - Cấp huyện: Nợ khối lượng hoàn thành 592,9 tỷ đồng, trong đó một số huyện có khối lượng nợ lớn như: Tam Kỳ 90,5 tỷ đồng, trong đó nợ từ ngân sách thành phố 81,1 tỷ đồng; Tiên Phước 73,6 tỷ đồng, trong đó nợ từ ngân sách huyện 55,9 tỷ đồng; Duy Xuyên 71,8 tỷ đồng, trong đó nợ từ ngân sách cấp huyện 44,5 tỷ đồng; Tây Giang 64,1 tỷ đồng, trong đó nợ từ ngân sách cấp huyện 40,6 tỷ đồng; Quế Sơn 49,8 tỷ đồng; Nam Giang 49,4 tỷ đồng, trong đó nợ từ ngân sách huyện 45,6 tỷ đồng. Quy mô và số lượng các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn: Theo [2] thì chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 03 năm gần đây đều nằm trong top 10 tỉnh, thành phố có chỉ số tốt. Kết quả thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp của tỉnh qua 03 năm tăng cao, số doanh nghiệp thành lập mới 3.860 doanh nghiệp, tính đến cuối năm 2018 số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh lên hơn 6.900 doanh nghiệp (trong đó có 897 doanh nghiệp hoạt động xây dựng), gấp 1,5 lần so với năm 2016, đạt 86,2% chỉ tiêu đề ra cho giai đoạn 2016-2020; như vậy, khả năng sẽ hoàn thành trước hạn đối với chỉ tiêu tăng trưởng doanh nghiệp Cấp mới 61 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký gần 331 triệu USD; nâng số dự án FDI trên địa bàn tỉnh còn hiệu lực là 163 dự án với tổng vốn đầu tư hơn 5,6 tỷ USD. Cấp phép 230 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký gần 68 nghìn tỷ đồng.
Các dự án tập trung phần lớn tại Khu KTM Chu Lai, các dự án du lịch ven biển và các cụm, khu công nghiệp tại các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Điện Bàn. Tuy nhiên, tại Quảng Nam, đa số doanh nghiệp có vốn đăng ký kinh doanh không quá 15 tỷ đồng. Trong 10 tháng đầu năm 2018, số lượng doanh nghiệp đăng ký tăng nhanh, nhưng mức vốn đăng ký bình quân chỉ đạt khoảng 10 tỷ đồng/doanh nghiệp. Lĩnh vực đầu tư chủ yếu là xây dựng, dịch vụ thương mại.