Hoàn thiện hệ thống QLCL công trình tại DNVVN xây dựng tỉnh Quảng Nam

Tải luận văn nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng công trình tại các DNVVN xây dựng tỉnh Quảng Nam.

Trường đại học

Trường Đại học Duy Tân

Chuyên ngành

Kỹ thuật Xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

87
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3. Phương pháp nghiên cứu

4. Mục tiêu nghiên cứu

5. Những đóng góp của luận văn

1. CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH TẠI TỈNH QUẢNG NAM

1.1. Tình hình thực tế nghành xây dựng tại địa bàn tỉnh Quảng Nam

1.1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và công tác đầu tư xây dựng cơ bản tại địa phương những năm gần đây

1.1.2. Quy mô và số lượng các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn

1.1.3. Thống kê, phân loại qui mô doanh nghiêp (lớn.vừa, nhỏ) trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

1.1.4. Khảo sát, thống kê thị phần xây dựng của từng loại doanh nghiệp

1.1.5. Vai trò và những đóng góp của các doanh nghiệp thi công xây dựng vừa và nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội tại địa phương

1.2. Hệ thống quản lý chất lượng

1.2.1. Hệ thống quản lý chất lượng xây dựng ở một số nước tiên tiến trên thế giới

1.2.2. Hệ thống quản lý chất lượng xây dựng ở nước ta và trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

1.3. Thực trạng công tác quản lý chất lượng tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa bàn tỉnh hiện nay

1.4. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

2.1. Cơ sở pháp lý

2.1.1. Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014

2.1.2. Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ: Về quản lý chất lượng công trình xây dựng

2.1.3. Nghị định 59/2015/NĐ-CP, ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về Quản lý dự án đầu tư xây dựng

2.1.4. TCVN 5637: 1991: Quản lý chất lượng xây lắp công trình xây dựng - nguyên tắc cơ bản đối với đơn vị nhận thầu thi công

2.1.5. Hệ thống Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam

2.1.6. Luật doanh nghiệp

2.2. CƠ SỞ KHOA HỌC

2.2.1. Đặc điểm của công trình xây dựng

2.2.2. Những khái niệm về Chất lượng, Quản lý chất lượng công trình

2.2.3. Khái quát về hệ thống quản lý chất lượng trong xây dựng

2.2.4. Quản lý chất lượng toàn diện (TQM)

2.2.5. Mô hình tổ chức bộ máy tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình

2.2.6. Tổng kết những nguyên nhân chính dẫn đến công trình kém chất lượng

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH TẠI DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

3.1. Đánh giá công tác quản lý chất lượng công trình tại một số doanh nghiệp điển hình

3.2. Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý chất lượng công trình áp dụng tại công trình đặc trưng ở địa phương

3.2.1. Đặc điểm các công trình thi công hiện nay trên địa bàn

3.2.2. Đề xuất mô hình quản lý, giám sát chất lượng nội bộ tại các công trường

3.3. Xây dựng cơ chế tự quản lý giám sát.Hệ thống kiểm soát, giám sát nội bộ

3.4. Mô hình phát triển bền vững

3.5. Doanh nghiệp tự quản lý chất lượng vì mục tiêu tồn tại và phát triển

3.6. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp phát triển hệ thống quản lý chất lượng

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý chất lượng công trình tại Quảng Nam

Tỉnh Quảng Nam, với vị thế là một trong những vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc về cơ sở hạ tầng trong hơn hai thập kỷ qua. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, GRDP bình quân đầu người tăng liên tục đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đầu tư xây dựng. Hàng loạt công trình giao thông, khu công nghiệp, khu đô thị mới và các dự án du lịch được triển khai, đặt ra yêu cầu cao về quản lý chất lượng công trình xây dựng. Nền tảng cho sự phát triển này không thể không kể đến vai trò của các doanh nghiệp xây dựng, đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tỷ lệ áp đảo trên địa bàn tỉnh.

1.1. Tình hình phát triển ngành xây dựng địa phương

Trong giai đoạn 2015-2020, kinh tế Quảng Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân từ 10 - 10,5%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, trong đó ngành công nghiệp - xây dựng chiếm khoảng 46%. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã xác định đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là một trong những nhiệm vụ đột phá. Nhiều công trình trọng điểm đã hoàn thành như Cầu Cửa Đại, đường ven biển, cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, góp phần kết nối các vùng kinh tế. Theo báo cáo [2], toàn tỉnh hiện có 9 khu công nghiệp và 55 cụm công nghiệp, tạo ra một thị trường xây dựng sôi động. Sự phát triển này đòi hỏi một hệ thống đảm bảo chất lượng công trình chặt chẽ để các sản phẩm xây dựng thực sự bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội lâu dài.

1.2. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong xây dựng

Theo thống kê, đến cuối năm 2018, Quảng Nam có hơn 6.900 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó có 897 doanh nghiệp xây dựng. Đáng chú ý, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tới 95,32%. Các doanh nghiệp này là đối tác chính trong hơn 90% các dự án do Ban quản lý cấp huyện làm chủ đầu tư và tham gia hơn 70% các công trình do Sở, ban, ngành cấp tỉnh quản lý. Dù quy mô vốn nhỏ và năng lực còn hạn chế, DNNVV đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế, tạo việc làm cho gần 87.000 lao động và đóng góp hơn 40% vào GDP của tỉnh. Tuy nhiên, điểm yếu cố hữu của khối doanh nghiệp này là công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý còn dựa nhiều vào kinh nghiệm, dẫn đến những thách thức không nhỏ trong việc kiểm soát chất lượng dự án.

II. Thực trạng thách thức quản lý chất lượng tại Quảng Nam

Mặc dù đóng vai trò xương sống trong ngành xây dựng địa phương, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Quảng Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong công tác quản lý chất lượng xây dựng. Phần lớn các doanh nghiệp chưa xây dựng được một hệ thống quản lý bài bản, chuyên nghiệp. Công tác giám sát thường mang tính hình thức, đối phó để hoàn thiện hồ sơ quản lý chất lượng nhằm mục đích thanh toán, thay vì mục tiêu đảm bảo sự bền vững của công trình. Thực trạng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan, từ năng lực nội tại của doanh nghiệp đến cơ chế quản lý của các cơ quan nhà nước.

2.1. Phân tích hiện trạng quản lý chất lượng nội bộ

Khảo sát mô hình tổ chức tại nhiều doanh nghiệp xây dựng nhỏ và vừa cho thấy một cấu trúc quản lý còn thô sơ. Thường thiếu một bộ phận chuyên trách về kiểm soát chất lượng. Sơ đồ tổ chức phổ biến cho thấy các đội xây dựng hoạt động khá độc lập, thiếu sự liên kết và phản hồi thông tin ngược trở lại phòng kỹ thuật hay phòng vật tư. Công tác giám sát thi công xây dựng nội bộ thường bị xem nhẹ, không có quy trình rõ ràng. Việc này dẫn đến tình trạng sai sót kỹ thuật không được phát hiện kịp thời, vật liệu không đảm bảo tiêu chuẩn vẫn được đưa vào sử dụng. Một số doanh nghiệp dù có áp dụng hệ thống quản lý chất lượng như ISO 9001 trong xây dựng nhưng chỉ mang tính hình thức, đối phó để đủ điều kiện năng lực tham gia đấu thầu.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng công trình

Chất lượng công trình chịu tác động từ nhiều yếu tố. Thứ nhất là năng lực của các bên liên quan: nhà thầu thi công thiếu kinh nghiệm quản lý, chủ đầu tư (đặc biệt là các Ban quản lý dự án) đôi khi còn yếu về chuyên môn, đội ngũ tư vấn giám sát chưa thực sự độc lập và khách quan. Thứ hai là các vấn đề về vốn và tiến độ, áp lực giải ngân vốn đầu tư công đôi khi khiến quá trình nghiệm thu công trình xây dựng bị đẩy nhanh, bỏ qua các bước kiểm tra cần thiết. Thứ ba là hệ thống tiêu chuẩn xây dựng Việt Namquy chuẩn kỹ thuật quốc gia dù đã có nhưng việc áp dụng tại cấp cơ sở chưa đồng bộ. Cuối cùng, ý thức về an toàn lao động trong xây dựng và văn hóa chất lượng trong doanh nghiệp chưa được đề cao, ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm cuối cùng.

III. Phương pháp hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng công trình

Để giải quyết các tồn tại, việc hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng công trình cần được tiếp cận một cách toàn diện, dựa trên cả cơ sở pháp lý và khoa học. Nền tảng pháp lý vững chắc với các văn bản như Luật Xây dựng, các Nghị định của Chính phủ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Song song đó, việc áp dụng các lý thuyết quản lý hiện đại như Quản lý chất lượng toàn diện (TQM) sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng một văn hóa chất lượng từ bên trong, hướng tới sự phát triển bền vững thay vì chỉ tập trung vào lợi ích ngắn hạn. Đây là con đường tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh.

3.1. Tuân thủ cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng

Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành đã quy định khá rõ trách nhiệm của các bên trong việc đảm bảo chất lượng. Luật xây dựng số 50/2014/QH13 và đặc biệt là Nghị định 59/2015/NĐ-CP về Quản lý dự án đầu tư xây dựng đã nêu rõ nội dung quản lý thi công bao gồm quản lý chất lượng, tiến độ, khối lượng, an toàn lao động và môi trường. Các nhà thầu phải lập biện pháp thi công, tổ chức hệ thống quản lý chất lượng phù hợp. Đồng thời, các quy chuẩn xây dựng Việt Nam (QCXDVN)tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) như TCVN 5637:1991 là công cụ kỹ thuật bắt buộc hoặc được khuyến khích áp dụng để kiểm soát từ vật liệu đầu vào đến quy trình thi công và nghiệm thu. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định này là yêu cầu tiên quyết.

3.2. Áp dụng các nguyên tắc quản lý chất lượng toàn diện TQM

TQM là một phương pháp quản lý định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên trong tổ chức. Thay vì chỉ kiểm tra sản phẩm cuối cùng, TQM tập trung vào việc cải tiến liên tục các quá trình. Đặc điểm cốt lõi của TQM là lấy khách hàng làm trung tâm, đề cao vai trò của lãnh đạo và yêu cầu sự tham gia của mọi nhân viên. Trong bối cảnh Quảng Nam, việc áp dụng TQM giúp các DNNVV thay đổi tư duy từ “đối phó” sang “chủ động” trong đảm bảo chất lượng công trình. Doanh nghiệp sẽ tự xây dựng các quy trình kiểm soát nội bộ, xem chất lượng là danh dự và là yếu tố sống còn để tồn tại trên thị trường cạnh tranh.

IV. Mô hình quản lý chất lượng tối ưu cho doanh nghiệp Quảng Nam

Dựa trên phân tích thực trạng và cơ sở lý luận, việc đề xuất một mô hình quản lý chất lượng phù hợp với đặc thù của các doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ tại Quảng Nam là vô cùng cần thiết. Mô hình này không cần quá phức tạp nhưng phải đảm bảo tính hệ thống, có sự phân công trách nhiệm rõ ràng và cơ chế kiểm soát chéo hiệu quả. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ thống tự giám sát, nơi mà chất lượng được kiểm soát ngay từ từng công đoạn nhỏ nhất tại công trường, thay vì chỉ chờ đợi sự kiểm tra từ bên ngoài.

4.1. Đề xuất mô hình giám sát chất lượng nội bộ tại công trường

Mô hình đề xuất cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ba bộ phận chính: Chỉ huy trưởng công trường, bộ phận kỹ thuật thi công và tổ/đội thi công trực tiếp. Cần thiết lập một quy trình giám sát nội bộ rõ ràng, trong đó bộ phận kỹ thuật có vai trò độc lập tương đối, chịu trách nhiệm kiểm tra vật liệu đầu vào, giám sát các công đoạn thi công quan trọng (như gia công cốt thép, trộn bê tông) và lập biên bản kiểm tra hàng ngày. Thông tin phải được luân chuyển hai chiều: từ đội thi công báo cáo khó khăn, vướng mắc lên bộ phận kỹ thuật và ngược lại, bộ phận kỹ thuật hướng dẫn, chấn chỉnh và yêu cầu khắc phục. Mô hình này giúp hình thành một cơ chế tự kiểm soát chất lượng dự án ngay tại cơ sở.

4.2. Vai trò của tư vấn giám sát và nghiệm thu công trình

Bên cạnh hệ thống tự kiểm soát của nhà thầu thi công, vai trò của đơn vị tư vấn giám sát (TVGS) là cực kỳ quan trọng. Để TVGS hoạt động hiệu quả, chủ đầu tư cần lựa chọn các đơn vị có đủ năng lực và kinh nghiệm. Mô hình tổ chức của đoàn TVGS cần chuyên nghiệp, có đủ các kỹ sư chuyên ngành (kết cấu, vật liệu, điện, nước...). Công tác nghiệm thu công trình xây dựng phải được thực hiện đúng quy trình, dựa trên hồ sơ thiết kế, các tiêu chuẩn kỹ thuật và kết quả kiểm tra thực tế. Mọi hạng mục, đặc biệt là các bộ phận bị che khuất, phải được nghiệm thu trước khi chuyển sang công đoạn tiếp theo. Sự phối hợp chặt chẽ và minh bạch giữa nhà thầu, TVGS và chủ đầu tư là chìa khóa để đảm bảo chất lượng công trình.

4.3. Xây dựng chính sách khuyến khích từ cơ quan quản lý

Để mô hình quản lý chất lượng được áp dụng rộng rãi, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Xây dựng Quảng Nam và các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng. Các chính sách có thể bao gồm: tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn về quản lý chất lượng; vinh danh, khen thưởng các doanh nghiệp làm tốt và công khai “sổ đen” các đơn vị vi phạm. Đồng thời, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính nhưng siết chặt hậu kiểm. Việc tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, nơi các doanh nghiệp có uy tín về chất lượng được ưu tiên trong đấu thầu, sẽ là động lực lớn nhất để họ tự hoàn thiện hệ thống quản lý của mình.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng công trình tại các doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH TẠI TỈNH QUẢNG NAM 1.1 Tình hình thực tế nghành xây dựng tại địa bàn tỉnh Quảng Nam. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và công tác đầu tư xây dựng cơ bản tại địa phương những năm gần đây Một trong những mục tiêu quan trọng của phương hướng chung về phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tỉnh công nghiệp, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế. Trong những năm qua xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tích cực và rỏ nét, nhất là cơ cấu ngành. Tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ chiếm trong tổng GDP đã tăng dần lên qua các năm, giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp, trong khi vẫn duy trì được tốc độ tăng của ba khu vực và các ngành kinh tế.

Theo báo cáo về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XX [8] thì nền kinh tế của Tỉnh giai đoạn 2010- 2015 được duy trì với tốc độ tăng trưởng khá, bình quân đạt 11,5%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực (công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm 84%, nông nghiệp chiếm 16%). Thu ngân sách trên địa bàn vào nhóm các tỉnh khá của cả nước. Các nhiệm vụ đột phá được tập trung lãnh đạo tổ chức thực hiện quyết liệt, đạt được những kết quả quan trọng, tạo thế và lực để phát triển mạnh hơn trong giai đoạn tới.

Tiếp tục phấn đấu đến năm 2020 Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân (theo phương pháp tính mới) từ 10 - 10,5%/năm. GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt từ 75 – 80 triệu đồng (tương đương 3. Tỷ trọng các ngành trong GRDP: nông nghiệp khoảng 10%, công nghiệp - xây dựng khoảng 46%, dịch vụ khoảng 4 44%. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên 16%/năm.

Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân trên 15%/năm. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm trên 30% GRDP. Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc cơ cấu lại kinh tế và đầu tư công theo hướng tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ đột phá, ưu tiên cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở các vùng kinh tế trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, miền núi. Giảm dần tỷ trọng đầu tư của Nhà nước trong tổng đầu tư toàn xã hội; đồng thời mở rộng xã hội hóa đầu tư.

Tập trung đầu tư hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối giữa các vùng của tỉnh và với các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và liên vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên. Đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm chuyển tiếp của tỉnh, phối hợp với Trung ương đầu tư nâng cấp, mở rộng quốc lộ 14D và Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang để đẩy mạnh hợp tác phát triển với các tỉnh của Lào và Thái Lan. Phát triển kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, hạ tầng đô thị, nhất là đô thị tỉnh lỵ, hạ tầng khu vực nông thôn và miền núi; xúc tiến kêu gọi đầu tư nâng cấp Cảng Kỳ Hà, Cảng hàng không quốc tế Chu Lai thành trung tâm trung chuyển hàng hóa của khu vực. Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; xây dựng Quảng Nam trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước.

Nâng cấp hạ tầng các khu vực có tiềm năng phát triển du lịch, nhất là ở khu vực Hội An, khu vực ven biển; đồng thời, mở rộng không gian phát triển du lịch về phía Nam và phía Tây của tỉnh. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, vận tải, bưu chính, viễn thông,. Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2016-2020 của Hội đồng nhân nhân tỉnh Quảng Nam [9]cũng ưu tiên: - Xúc tiến các dự án mới về mở rộng không gian du lịch Nam Hội An, khu liên hợp công nghiệp dệt may tại Khu công nghiệp Tam Thăng, công 5 nghiệp khí điện Tam Quang. Tăng cường các mối quan hệ liên kết thúc đẩy phát triển khu vực công nghiệp - du lịch Hội An - Điện Nam - Điện Ngọc, Khu Kinh tế mở Chu Lai và thành phố Tam Kỳ.

- Tập trung xây dựng, phát triển nâng cấp hệ thống mạng lưới cơ sở hạ tầng quan trọng; các dự án chống xói lở bờ sông, đê biển; hạ tầng kỹ thuật các đô thị, khu công nghiệp và các khu, điểm du lịch, các khu neo đậu tàu thuyền, hậu cần nghề cá. - Tăng cường các sáng kiến về tăng trưởng xanh trong quy hoạch và phát triển các đô thị động lực, đặc biệt là Hội An và Tam Kỳ theo hướng văn minh, hiện đại, đạt tiêu chí đô thị loại II. Ưu tiên cải tạo, nâng cấp các trục đường chính ra vào đô thị, đặc biệt là Hội An và Tam Kỳ bằng các chương trình từ ngân sách nhà nước và dự án ODA. Phấn đấu xây dựng, phát triển các đô thị.

Còn theo Báo cáo đánh giá giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015-2020 [2]: - Nhiều tuyến giao thông quan trọng đã hoàn thành đưa vào sử dụng như: Cầu Cửa Đại và Đường ven biển, cầu Giao Thủy, đường ĐT610 đoạn nối Duy Xuyên với Nông Sơn, đường ĐT605, ĐT 608; các tuyến Trung ương đầu tư trên địa bàn như Đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, mở rộng, nâng cấp Quốc lộ 1. Triển khai đầu tư dự án Đường ĐT.607, cảng các Tam Quang, các tuyến nối từ Đường ven biển với QL1 và Cao tốc. Tiếp tục thực hiện một số dự án theo kế hoạch đầu tư công trung hạn, nhất là các trục giao thông khu vực miền núi như đường Tam Trà – Trà Cót, đường Trà My – Phước Thành, cầu Nông Sơn. - Hạ tầng các Khu công nghiệp, khu kinh tế tiếp tục được quan tâm đầu tư.

Toàn tỉnh hiện có 9 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích quy hoạch 4. Đến nay có 7 khu đã đi vào hoạt động, diện tích đất sử dụng khoảng 6 1.026 ha, số lao động sử dụng khoảng 40. Tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp khoảng 51,2%. Ngoài ra, có 55 cụm công nghiệp đang triển khai thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng và đi vào hoạt động với diện tích 1.402 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp 964 ha.

Tỉ lệ lấp đầy bình quân của các cụm công nghiệp đi vào hoạt động đạt 66,4%. Tuy nhiên cũng vì với rất nhiều dự án đã và đang được triển khai trong giai đoạn vừa qua, công tác quản lý, sử dụng vốn tại Tỉnh vẫn chưa được tốt, vẫn còn chậm giải ngân vốn đầu tư công. Điển hình, theo Báo cáo giám sát đánh giá tổng thể 06 tháng đầu năm 2019 [1], còn nhiều dự án bị nợ khối lượng hoàn thành được Sở Kế hoạch và và Đầu tư tổng hợp từ báo cáo của các chủ đầu tư là 1.218,2 tỷ đồng, giảm 11,5 tỷ đồng so với nợ khối lượng hoàn thành đến hết quý I năm 2019 (nợ khối lượng hoàn thành đến hết quý I năm 2019 là 1.229,8 tỷ đồng), trong đó khối ngành tăng 20,2 tỷ đồng, khối huyện giảm 31,8 tỷ đồng. Cụ thể: - Cấp tỉnh: Nợ khối lượng hoàn thành 625,3 tỷ đồng, trong đó một số chủ đầu tư có khối lượng nợ lớn như: Ban Quản lý khu kinh tế mở Chu Lai 443 tỷ đồng (nợ chủ yếu của dự án cầu Cửa Đại 170,3 tỷ đồng; dự án phòng chống lụt bão, đường cứu hộ, cứu nạn Tam Kỳ 111,6 tỷ đồng; dự án nạo vét luồng vào cảng Kỳ Hà 72,5 tỷ đồng); Sở Giao thông Vận tải 71,1 tỷ đồng (nợ chủ yếu của dự án đường vào trung tâm xã AXan nối xã Ch'Om đến cửa khẩu phụ Tây Giang 19,9 tỷ đồng; nâng cấp mở rộng đường vào trung tâm du lịch phố cổ Hội An - Tuyến ĐT608, đoạn từ Km4+714 - Km7+956,54 là 15,9 tỷ đồng; nợ khối lượng hoàn thành các dự án này từ nguồn ngân sách trung ương); Sở Y tế 22,9 tỷ đồng (nợ chủ yếu của dự án nâng cấp bệnh viện Nhi thành bệnh viện Sản - Nhi 13,3 tỷ đồng và nợ từ nguồn ngân sách trung ương); Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch 20,7 tỷ đồng.

7 - Cấp huyện: Nợ khối lượng hoàn thành 592,9 tỷ đồng, trong đó một số huyện có khối lượng nợ lớn như: Tam Kỳ 90,5 tỷ đồng, trong đó nợ từ ngân sách thành phố 81,1 tỷ đồng; Tiên Phước 73,6 tỷ đồng, trong đó nợ từ ngân sách huyện 55,9 tỷ đồng; Duy Xuyên 71,8 tỷ đồng, trong đó nợ từ ngân sách cấp huyện 44,5 tỷ đồng; Tây Giang 64,1 tỷ đồng, trong đó nợ từ ngân sách cấp huyện 40,6 tỷ đồng; Quế Sơn 49,8 tỷ đồng; Nam Giang 49,4 tỷ đồng, trong đó nợ từ ngân sách huyện 45,6 tỷ đồng. Quy mô và số lượng các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn: Theo [2] thì chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 03 năm gần đây đều nằm trong top 10 tỉnh, thành phố có chỉ số tốt. Kết quả thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp của tỉnh qua 03 năm tăng cao, số doanh nghiệp thành lập mới 3.860 doanh nghiệp, tính đến cuối năm 2018 số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh lên hơn 6.900 doanh nghiệp (trong đó có 897 doanh nghiệp hoạt động xây dựng), gấp 1,5 lần so với năm 2016, đạt 86,2% chỉ tiêu đề ra cho giai đoạn 2016-2020; như vậy, khả năng sẽ hoàn thành trước hạn đối với chỉ tiêu tăng trưởng doanh nghiệp Cấp mới 61 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký gần 331 triệu USD; nâng số dự án FDI trên địa bàn tỉnh còn hiệu lực là 163 dự án với tổng vốn đầu tư hơn 5,6 tỷ USD. Cấp phép 230 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký gần 68 nghìn tỷ đồng.

Các dự án tập trung phần lớn tại Khu KTM Chu Lai, các dự án du lịch ven biển và các cụm, khu công nghiệp tại các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Điện Bàn. Tuy nhiên, tại Quảng Nam, đa số doanh nghiệp có vốn đăng ký kinh doanh không quá 15 tỷ đồng. Trong 10 tháng đầu năm 2018, số lượng doanh nghiệp đăng ký tăng nhanh, nhưng mức vốn đăng ký bình quân chỉ đạt khoảng 10 tỷ đồng/doanh nghiệp. Lĩnh vực đầu tư chủ yếu là xây dựng, dịch vụ thương mại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ