CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP 1. Lý luận cơ bản về thị trường trái phiếu doanh nghiệp 1. Trái phiếu doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm trái phiếu Khái niệm về trái phiếu Trước hết nói đến khái niệm trái phiếu, Trái phiếu đơn giản là một hình thức cho vay bởi Chính quyền hoặc các doanh nghiệp.
Cụ thể theo quy định tại Khoản 3, Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của tổ chức phát hành. Đó là giấy chứng nhận nợ dài hạn do chính tổ chức phát hành cam kết với người sở hữu trái phiếu sẽ thanh toán lợi tức và vốn gốc vào một ngày xác định trong tương lai. Trái phiếu thuộc loại chứng khoán nợ, thông thường có tính chất trung và dài hạn. Chủ thể phát hành trái phiếu thường được gọi là tổ chức phát hành với tư cách người đi vay, người mua và sở hữu trái phiếu là người cho vay, thường được gọi là trái chủ.
Thông thường, trên thị trường tài chính, trái phiếu có nhiều loại khác nhau và có thể được phát hành dưới dạng khác biệt, tuy nhiên dù tồn tại ở bất kỳ hình thức nào thì chúng đều phải bao gồm hoặc thể hiện rõ ràng các nội dung như dưới đây: Mệnh giá: hay còn được gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu, thể hiện số tiền mà tổ chức phát hành phải thanh toán cho người sở hữu trái phiếu khi tới thời điểm đáo hạn. Mệnh giá cũng là căn cứ để xác định lợi tức (nếu có) mà người cho vay được hưởng. Lãi suất trái phiếu: được ghi trên trái phiếu hoặc do tổ chức phát hành công bố. Đây sẽ là căn cứ thứ hai để xác định lợi tức trái phiếu.
Mỗi trái phiếu sẽ đều có một mức lãi suất được tổ chức phát hành cam kết sẽ thanh toán cho người nắm giữ trái phiếu một số tiền lãi vào thời điểm xác định được quy định cụ thể và thường là định kỳ. Lãi suất thường sẽ được công bố theo tỷ lệ phần trăm (%) so với mệnh giá. 9 Thời hạn của trái phiếu: hay còn gọi là kỳ hạn của trái phiếu, là khoảng thời gian từ ngày phát hành trái phiếu đến ngày tổ chức phát hành thanh toán toàn bộ phần vốn gốc (hoặc có thể là lần cuối cùng thanh toán vốn gốc) cho người sở hữu. Thời điểm trên cũng có thể gọi là ngày đáo hạn của trái phiếu.
Có thể chia trái phiếu ra ba loại tương ứng là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn tùy thuộc vào kỳ hạn của trái phiếu tương tự các khoản vay. Thông thường, kỳ hạn của trái phiếu càng dài thì tính biến động giá trái phiếu càng lớn trước sự biến động của lãi suất thị trường. Kỳ hạn trả lãi: là khoảng thời gian xác định mà tổ chức phát hành trái phiếu thực hiện trả lãi cho người sở hữu trái phiếu. Lãi suất trái phiếu theo thông lệ thường được xác định theo năm, tuy nhiên kỳ trả lãi được xác định tùy theo ý chí của tổ chức phát hành.
Giá trái phiếu: là số tiền thực tế mà các nhà đầu tư bỏ ra để sở hữu trái phiếu. Tùy vào các điều kiện của thị trường, đặc điểm nội tại của trái phiếu và các bên tham gia mà giá trái phiếu thay đổi, giá giao dịch có thể lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng mệnh giá. Tuy nhiên, để xác định lợi tức hay lãi trái phiếu người ta dựa vào mệnh giá của trái phiếu. Trái phiếu trên thị trường tài chính có rất nhiều loại khác nhau, tùy theo tiêu chí mà trái phiếu sẽ được phân thành từng loại tương ứng.
Căn cứ vào tiêu chí là đối tượng/chủ thể phát hành, trái phiếu có thể được phân thành hai loại là trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp. Phát hành trái phiếu chính phủ là phương thức để nhà nước vay vốn (một loại tín dụng nhà nước). Do đó, trái phiếu ghi nhận nghĩa vụ trả nợ của Nhà nước và quyền lợi của người sở hữu trái phiếu. Trái phiếu chính phủ sẽ do Chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành với mục đích cân đối ngân sách, tài trợ công trình phúc lợi công cộng tại địa phương, trung ương, tài trợ các hoạt động chi thường xuyên hoặc có thể là một công cụ để điều tiết tiền tệ.
Về cơ bản trái phiếu doanh nghiệp mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của trái phiếu thông thường, do chủ thể phát hành là các doanh nghiệp phát hành nhằm mục đích huy động vốn trung và dài hạn để đầu tư, phát triển dự án, mở rộng quy mô hoạt 10 động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do được đánh giá là rủi ro hơn so với việc đầu tư trái phiếu chính phủ, vì vậy lãi suất kỳ vọng khi đầu tư trái phiếu doanh nghiệp thường cao hơn lãi suất của trái phiếu chính phủ ở cùng kỳ hạn. Khái niệm và đặc điểm trái phiếu doanh nghiệp Trái phiếu doanh nghiệp là trái phiếu do doanh nghiệp phát hành. Về phía văn bản quản lý của Nhà nước Việt Nam, cụ thể tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020: “Trái phiếu doanh nghiệp” là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của doanh nghiệp phát hành.
Nhìn chung các khái niệm về Trái phiếu doanh nghiệp đều làm rõ bản chất của trái phiếu doanh nghiệp chính là giấy chứng nhận nợ của doanh nghiệp phát hành, theo đó người sở hữu trái phiếu hay trái chủ chính là người cho vay, doanh nghiệp phát hành trái phiếu là người đi vay. Giấy chứng nhận này chính là sự chứng nhận về mặt pháp lý, ghi nhận liên hệ giữa quyền lợi của chủ nợ đối với doanh nghiệp phát hành và nghĩa vụ tài chính, các cam kết mà doanh nghiệp phải thực hiện. Thông thường trái phiếu doanh nghiệp được trả lãi định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm một lần hoặc thậm chí một năm một lần. Trong trường hợp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, các trái chủ tương tự chủ nợ của doanh nghiệp được quyền ưu tiên thanh toán trước so với chủ sở hữu của doanh nghiệp – những người nắm giữ cổ phiếu thường.
Các đặc điểm cơ bản của trái phiếu doanh nghiệp Thứ nhất, các cam kết của tổ chức phát hành: Trái phiếu phản ánh quan hệ vay mượn, sử dụng vốn lẫn nhau giữa trái chủ và tổ chức phát hành dựa trên nguyên tắc hoàn trả và mối quan hệ về lòng tin – tương tự các hình thức tín dụng truyền thống. Chủ thể phát hành của trái phiếu doanh nghiệp là các công ty hoạt động theo quy định của luật doanh nghiệp cũng như pháp luật hiện hành. Tổ chức phát hành cam kết trả một tỷ lệ phần trăm xác định tính trên mệnh giá trái phiếu – được gọi là lãi coupon, mệnh giá hoặc một phần mệnh giá – thường gọi là trả gốc theo lịch trả nợ đã được ấn định từ đầu. Như đã đề cập bên trên, khoảng 11 thời gian giữa các lần thanh toán thường được quy định theo tháng, quý, nửa năm hay một năm, ngày thanh toán mệnh giá trái phiếu lần cuối cùng chính là ngày đáo hạn của trái phiếu.
Thứ hai, về các điều kiện, điều khoản: Cam kết của tổ chức phát hành và quyền lợi của nhà đầu tư được trình bày chi tiết trong các văn kiện trái phiếu, trong đó bao gồm các điều kiện và điều khoản của trái phiếu. Các văn kiện trái phiếu này là một thỏa thuận pháp lý giữa tổ chức phát hành và các trái chủ trong đó tối thiểu nêu lên các quyền cơ bản của trái chủ như: lãi suất coupon được hưởng, thời gian thanh toán lãi, kỳ hạn trái phiếu, lịch mua lại trái phiếu, phương thức thanh toán, các điều kiện bảo đảm cho gói trái phiếu, khả năng chuyển đổi của trái phiếu. Trên thực tế các văn kiện trái phiếu có thể đặt ra những điều kiện áp đặt với hoạt động của công ty trong tương lai. Thường thì những hạn chế này có tác dụng đảm bảo khả năng thanh toán của tổ chức phát hành, củng cố vị thế của các nhà đầu tư hay người chủ sở hữu trái phiếu.
Nhiều trường hợp sẽ là sự giới hạn về việc sử dụng các công cụ nợ, hạn chế dòng tiền cho việc chi trả cổ tức cho chủ sở hữu, mua bán sáp nhập với doanh nghiệp khác hay thay đổi hoạt động kinh doanh cốt lõi của công ty. Thứ ba, những đại diện được ủy thác – người được ủy thác: Khi sử dụng hình thức phát hành trái phiếu để huy động vốn, có một vấn đề mà tổ chức phát hành gặp phải trong quá trình thực hiện là trình độ của nhà đầu tư. Không phải lúc nào các trái chủ cũng đều là những cá nhân hay tổ chức có chuyên môn để thấu hiểu rõ ràng các văn kiện trái phiếu một cách đầy đủ, cũng như không đủ điều kiện để giám sát việc tuân thủ các cam kết của tổ chức phát hành. Chính vì lý do đó, để việc phát hành trái phiếu mang lại hiệu quả luôn cần có sự tham gia của các bên thứ ba (có thể một hoặc nhiều bên) – những tổ chức đại diện cho các nhà đầu tư.
Trên thực tế, trong các đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam cũng như hầu hết các thị trường khác, tổ chức phát hành luôn trả các khoản phí cho những người được ủy thác – thường là các đơn vị uy tín như ngân hàng đầu tư, ngân hàng thương mại hay các công ty chứng khoán. Phân loại trái phiếu doanh nghiệp Có thể nói, trái phiếu doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú về hình thức và chủng loại. Điều này giúp loại hình này đáp ứng được hầu hết nhu cầu và thị hiếu của doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư trên thị trường. Dưới đây là một số loại doanh nghiệp thường gặp được phân loại theo các tiêu chí khác nhau.
Căn cứ vào lãi suất trái phiếu Trái phiếu có lãi suất cố định là loại trái phiếu mà lãi suất được tính toán theo tỷ lệ phần trăm cố định trên mệnh giá. Trái phiếu có lãi suất biến đổi (hay còn gọi là thả nổi) là trái phiếu mà lợi tức mà các nhà đầu tư được nhận có sự biến đổi theo một mức lãi suất tham chiếu từng thời điểm khác nhau.