Luận văn thạc sĩ: Xây dựng đường đặc tính Pushover trong hệ kết cấu khung có dầm chuyển

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phương pháp phân tích pushover cho kết cấu khung có dầm chuyển. Bao gồm cơ sở lý thuyết và ví dụ tính toán ứng dụng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

70
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn toàn diện phân tích Pushover cho khung dầm chuyển

Phân tích Pushover, hay còn gọi là phân tích tĩnh phi tuyến, là một công cụ mạnh mẽ trong lĩnh vực thiết kế kết cấu hiện đại, đặc biệt là thiết kế kháng chấn. Phương pháp này cho phép đánh giá sự làm việc của công trình vượt ra ngoài giới hạn đàn hồi, mô phỏng quá trình hình thành các khớp dẻo và sự phân bố lại nội lực cho đến khi kết cấu đạt tới trạng thái phá hoại. Đối với kết cấu khung dầm chuyển, một dạng kết cấu phức tạp với sự thay đổi đột ngột về độ cứng và khối lượng, việc áp dụng phân tích Pushover càng trở nên cấp thiết. Dầm chuyển, với nhiệm vụ đỡ các cột hoặc vách ở tầng trên, tạo ra sự gián đoạn trong đường truyền tải trọng, làm thay đổi ứng xử động của toàn hệ. Phân tích đàn hồi tuyến tính truyền thống, vốn dựa trên hệ số ứng xử 'q', có thể không phản ánh chính xác cơ chế phá hoại thực tế của loại kết cấu này. Luận văn này tập trung vào việc xây dựng quy trình chi tiết để thực hiện phân tích Pushover cho kết cấu khung dầm chuyển, từ việc xác định đặc tính phi tuyến của vật liệu, mô hình hóa khớp dẻo, đến việc xác định chuyển vị mục tiêu theo tiêu chuẩn TCVN 9386:2012. Kết quả của phương pháp này là đường đặc tính Pushover (hay đường cong năng lực), biểu diễn mối quan hệ giữa lực cắt đáy và chuyển vị đỉnh, cung cấp một cái nhìn trực quan về độ bền, độ cứng và độ dẻo của công trình.

1.1. Khái niệm và mục đích của phương pháp đẩy dần Pushover

Phương pháp đẩy dần (Pushover) là một quy trình phân tích tĩnh, trong đó một mô hình tải trọng ngang không đổi về dạng nhưng tăng dần về độ lớn được đặt vào kết cấu. Quá trình này mô phỏng lực quán tính phát sinh trong một trận động đất. Mục đích chính là để xác định các đặc trưng ứng xử phi tuyến của kết cấu, bao gồm khả năng chịu lực và khả năng biến dạng. Phương pháp này cho phép theo dõi tuần tự sự hình thành của các khớp dẻo, sự suy giảm độ cứng của các cấu kiện, và cuối cùng là cơ chế phá hoại tổng thể. Theo TCVN 9386:2012, phân tích Pushover có thể được sử dụng để kiểm tra tỷ số vượt độ bền, xác định cơ cấu dẻo dự kiến, và là một phương pháp thiết kế thay thế cho phương pháp phân tích đàn hồi tuyến tính.

1.2. Tại sao phân tích Pushover quan trọng cho khung dầm chuyển

Kết cấu khung dầm chuyển có đặc điểm là sự tập trung khối lượng và độ cứng lớn tại vị trí tầng chuyển. Điều này tạo ra một điểm yếu tiềm tàng, có thể dẫn đến cơ chế phá hoại dạng tầng mềm nếu không được thiết kế cẩn thận. Các phương pháp phân tích tuyến tính thường bỏ qua sự phân bố lại nội lực sau khi một số cấu kiện bắt đầu chảy dẻo. Ngược lại, phân tích Pushover mô phỏng được quá trình này, giúp kỹ sư nhận diện chính xác các cấu kiện nguy hiểm, đặc biệt là dầm chuyển và các cột bên dưới. Nó cung cấp thông tin chi tiết về yêu cầu độ dẻo tại các khớp dẻo, giúp đảm bảo cơ chế phá hoại là dẻo và có thể dự đoán trước, thay vì phá hoại giòn, đột ngột.

II. Thách thức thiết kế kháng chấn cho kết cấu khung dầm chuyển

Việc thiết kế kết cấu khung dầm chuyển để chống lại tác động của động đất đặt ra nhiều thách thức đáng kể so với các hệ khung thông thường. Thách thức lớn nhất đến từ sự bất thường về độ cứng và khối lượng theo chiều cao công trình. Dầm chuyển là một cấu kiện có độ cứng rất lớn, trong khi các cột đỡ nó và các tầng bên trên có thể tương đối mảnh hơn, tạo ra một sự thay đổi đột ngột. Sự tập trung khối lượng tại tầng chuyển cũng làm thay đổi dạng dao động của kết cấu, khiến cho các giả thiết của phương pháp tĩnh lực ngang tương đương trở nên kém chính xác. Một nguy cơ nghiêm trọng khác là sự hình thành cơ chế phá hoại không mong muốn, chẳng hạn như cơ chế tầng mềm ngay bên dưới dầm chuyển. Nếu các cột ở tầng dưới yếu hơn dầm chuyển và các cấu kiện bên trên, toàn bộ biến dạng phi đàn hồi sẽ tập trung vào tầng này, dẫn đến sụp đổ. Việc đảm bảo nguyên tắc “cột khỏe - dầm yếu” trở nên phức tạp hơn tại các nút giao giữa dầm chuyển và cột. Các phương pháp thiết kế dựa trên lực (Force-Based Design) truyền thống, sử dụng phổ phản ứng đã được giảm nhẹ bởi hệ số ứng xử q, có thể không đánh giá hết được các yêu cầu về biến dạng và độ dẻo tại các vị trí quan trọng này, dẫn đến một thiết kế không an toàn.

2.1. Hạn chế của phương pháp phân tích đàn hồi tuyến tính

Phương pháp tĩnh lực ngang tương đương và phương pháp phổ phản ứng là các phương pháp phân tích đàn hồi tuyến tính phổ biến. Tuy nhiên, chúng có những hạn chế cố hữu khi áp dụng cho các kết cấu phức tạp như khung dầm chuyển. Các phương pháp này giả định rằng kết cấu làm việc trong miền đàn hồi và sử dụng hệ số ứng xử 'q' để gián tiếp xét đến khả năng làm việc phi tuyến. Hệ số 'q' là một giá trị đơn lẻ, không thể hiện được sự phân bố biến dạng dẻo không đều trong kết cấu. Điều này đặc biệt nguy hiểm cho khung dầm chuyển, nơi mà yêu cầu về độ dẻo có thể tập trung cao độ tại một vài vị trí. Do đó, phân tích đàn hồi tuyến tính không thể dự báo chính xác cơ chế chảy dẻo và mức độ hư hỏng thực tế.

2.2. Nguy cơ hình thành cơ chế cột yếu dầm khỏe nguy hiểm

Mục tiêu của thiết kế kháng chấn hiện đại là tạo ra một cơ chế chảy dẻo có thể dự đoán được, thường là theo nguyên tắc “cột khỏe - dầm yếu”. Nguyên tắc này đảm bảo rằng các khớp dẻo sẽ hình thành ở đầu các dầm trước khi chúng hình thành ở cột, tránh được cơ chế tầng mềm và sụp đổ dây chuyền. Tuy nhiên, trong kết cấu khung dầm chuyển, dầm chuyển có kích thước và độ bền rất lớn. Nếu không kiểm soát cẩn thận, độ bền uốn của dầm chuyển có thể vượt qua tổng độ bền uốn của các cột đỡ nó tại một nút. Điều này vi phạm nguyên tắc thiết kế cơ bản và có thể dẫn đến sự hình thành khớp dẻo ở chân cột ngay bên dưới dầm chuyển, gây ra một cơ chế phá hoại cực kỳ nguy hiểm. Phân tích Pushover là công cụ hiệu quả để kiểm tra và ngăn chặn nguy cơ này.

III. Phương pháp phân tích Pushover Xây dựng đường cong năng lực

Quy trình phân tích Pushover là một chuỗi các bước được thực hiện một cách có hệ thống để đánh giá năng lực chịu tải của kết cấu khi chịu tải trọng ngang tăng dần. Quá trình này bắt đầu bằng việc xây dựng một mô hình toán học chi tiết của công trình, trong đó các đặc tính phi tuyến của vật liệu và cấu kiện được định nghĩa. Cốt lõi của mô hình là việc gán các khớp dẻo tại những vị trí dự kiến sẽ xảy ra biến dạng dẻo, điển hình là tại hai đầu dầm và chân cột. Mỗi khớp dẻo được định nghĩa bởi một đường cong quan hệ lực-biến dạng (ví dụ: Moment-Góc xoay) thể hiện các giai đoạn làm việc từ đàn hồi, chảy dẻo, đến suy giảm cường độ và phá hoại. Sau khi mô hình hoàn tất, tải trọng thẳng đứng (tĩnh tải và một phần hoạt tải) được đặt vào và giữ không đổi. Tiếp theo, một dạng phân bố tải trọng ngang (ví dụ: dạng tam giác ngược hoặc theo dạng dao động cơ bản) được áp dụng và tăng dần theo từng bước. Ở mỗi bước tăng tải, phần mềm sẽ phân tích lại kết cấu, kiểm tra xem có khớp dẻo mới nào hình thành hoặc trạng thái của các khớp dẻo hiện có thay đổi hay không. Quá trình này tiếp tục cho đến khi kết cấu đạt đến chuyển vị mục tiêu hoặc trở nên biến hình, không còn khả năng chịu tải.

3.1. Mô hình hóa kết cấu và định nghĩa đặc tính khớp dẻo

Bước đầu tiên và quan trọng nhất là mô hình hóa chính xác kết cấu. Trong phân tích Pushover, thay vì mô hình đàn hồi tuyến tính, các cấu kiện được mô hình hóa để có thể làm việc trong vùng phi tuyến. Điều này được thực hiện thông qua việc định nghĩa các khớp dẻo. Đặc tính của khớp dẻo được xây dựng dựa trên tiết diện bê tông cốt thép thực tế, bao gồm kích thước, cường độ vật liệu và hàm lượng cốt thép. Đường cong Moment-Góc xoay của khớp dẻo thường bao gồm các điểm đặc trưng tương ứng với các cấp độ làm việc như Hạn chế hư hỏng (IO), Hư hỏng đáng kể (LS)Ngăn ngừa sụp đổ (CP), theo định nghĩa của các tiêu chuẩn như FEMA hoặc TCVN 9386:2012.

3.2. Lựa chọn dạng tải trọng ngang và xác định chuyển vị mục tiêu

Việc lựa chọn dạng phân bố tải trọng ngang ảnh hưởng đến kết quả phân tích. TCVN 9386:2012 yêu cầu sử dụng ít nhất hai dạng phân bố: phân bố đều và phân bố theo dạng dao động cơ bản (thường xấp xỉ bằng dạng tam giác ngược). Chuyển vị mục tiêu là chuyển vị ngang lớn nhất tại đỉnh công trình dự kiến xảy ra trong trận động đất thiết kế. Việc xác định chuyển vị mục tiêu là một quy trình phức tạp, liên quan đến việc chuyển đổi hệ kết cấu nhiều bậc tự do (MDOF) về hệ một bậc tự do (SDOF) tương đương, sau đó sử dụng phổ phản ứng đàn hồi để tính toán. Đây là điểm dừng của quá trình phân tích đẩy dần, tại đó các yêu cầu về biến dạng và nội lực được đánh giá.

IV. Bí quyết xác định đặc tính khớp dẻo trong phân tích Pushover

Độ chính xác của phân tích Pushover phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng đúng đắn các đặc tính khớp dẻo của từng cấu kiện. Một khớp dẻo không chỉ đơn thuần là một điểm mà tại đó kết cấu bắt đầu chảy dẻo; nó là một mô hình phức tạp mô tả toàn bộ quá trình làm việc sau đàn hồi của một tiết diện. Để xây dựng đường quan hệ Moment-Góc xoay (M-θ), cần tiến hành phân tích tiết diện. Quá trình này tính đến sự làm việc đồng thời của bê tông và cốt thép, sự nứt của bê tông vùng kéo, và sự chảy dẻo của cốt thép. Các phần mềm chuyên dụng như RESPONSE-2000 có thể hỗ trợ việc này. Đường cong M-θ thu được sẽ xác định các thông số quan trọng: momen chảy dẻo (My), độ cong chảy dẻo (φy), momen cực hạn (Mu), và độ cong cực hạn (φu). Từ các giá trị này, có thể xác định được các điểm giới hạn cho các cấp độ làm việc khác nhau. Ví dụ, điểm Hạn chế hư hỏng (IO) thường tương ứng với điểm chảy dẻo đầu tiên. Điểm Hư hỏng đáng kể (LS)Ngăn ngừa sụp đổ (CP) được xác định dựa trên các giá trị biến dạng lớn hơn, thể hiện mức độ hư hỏng cho phép. Việc xem xét ảnh hưởng của lực dọc trong cột lên đường cong M-θ là cực kỳ quan trọng, vì lực dọc có thể làm tăng đáng kể momen kháng uốn nhưng lại làm giảm khả năng biến dạng dẻo của tiết diện.

4.1. Các cấp độ làm việc của kết cấu IO LS và CP

Theo TCVN 9386:2012 và các tiêu chuẩn quốc tế, sự làm việc của kết cấu dưới tác động động đất được đánh giá qua các cấp độ làm việc. Cấp độ Hạn chế hư hỏng (Immediate Occupancy - IO) tương ứng với hư hỏng nhẹ, công trình có thể sử dụng ngay sau động đất. Cấp độ Hư hỏng đáng kể (Life Safety - LS) đảm bảo an toàn tính mạng cho người sử dụng, dù kết cấu có thể bị hư hỏng nặng và cần sửa chữa lớn. Cấp độ Ngăn ngừa sụp đổ (Collapse Prevention - CP) là trạng thái giới hạn cuối cùng, kết cấu đứng vững nhưng bị hư hỏng rất nặng, gần như không thể sửa chữa. Mỗi cấp độ này tương ứng với một giá trị biến dạng (ví dụ: góc xoay dẻo) cho phép tại các khớp dẻo.

4.2. Xây dựng quan hệ Moment Góc xoay cho dầm và cột

Quan hệ Moment-Góc xoay là trái tim của mô hình khớp dẻo. Đối với dầm, quan hệ này chủ yếu phụ thuộc vào momen uốn. Tuy nhiên, đối với cột, nó là một biểu đồ tương tác phức tạp giữa Momen-Lực dọc-Góc xoay (P-M-θ). Lực nén trong cột làm tăng khả năng chịu uốn nhưng giảm độ dẻo. Ngược lại, lực kéo làm giảm khả năng chịu uốn. Do đó, khi định nghĩa khớp dẻo cho cột trong các phần mềm như SAP2000, cần phải định nghĩa một bề mặt tương tác P-M thay vì một đường cong đơn lẻ. Điều này đảm bảo rằng sự thay đổi lực dọc trong cột trong quá trình phân tích được tính đến một cách chính xác khi đánh giá trạng thái của khớp dẻo.

V. Hướng dẫn phân tích Pushover qua ví dụ khung 7 tầng thực tế

Để minh họa quy trình, luận văn đã thực hiện phân tích Pushover cho một khung phẳng bê tông cốt thép 7 tầng, 3 nhịp, có dầm chuyển tại tầng 2. Mô hình được xây dựng trong phần mềm SAP2000. Đầu tiên, kết cấu được thiết kế sơ bộ theo phương pháp tĩnh lực ngang tương đương tuân thủ TCVN 9386:2012 và TCVN 5574:2012 để xác định kích thước tiết diện và hàm lượng cốt thép. Dựa trên kết quả thiết kế này, các khớp dẻo dạng M3 (cho dầm) và P-M2-M3 (cho cột) được định nghĩa và gán vào các vị trí đầu cấu kiện. Đặc tính của các khớp dẻo được tự động tính toán bởi SAP2000 dựa trên cốt thép đã bố trí. Phân tích đẩy dần được tiến hành với dạng tải tam giác ngược. Kết quả phân tích được thể hiện qua đường đặc tính Pushover, cho thấy mối quan hệ giữa lực cắt đáy và chuyển vị đỉnh. Đồng thời, quá trình phân tích cũng cho thấy thứ tự hình thành các khớp dẻo trong kết cấu. Kết quả cho thấy các khớp dẻo đầu tiên xuất hiện ở đầu các dầm ở các tầng trên, phù hợp với nguyên tắc “cột khỏe - dầm yếu”. Khi tải trọng tăng lên, các khớp dẻo tiếp tục hình thành và lan rộng, cho thấy một cơ chế chảy dẻo toàn cục, giúp tiêu tán năng lượng hiệu quả.

5.1. So sánh kết quả giữa phân tích Pushover và tĩnh lực tương đương

Việc so sánh hai phương pháp cho thấy những khác biệt quan trọng. Phương pháp tĩnh lực ngang tương đương cung cấp một bộ nội lực duy nhất để thiết kế, trong khi phân tích Pushover cho thấy sự phân bố lại nội lực khi kết cấu bước vào giai đoạn phi tuyến. Phân tích Pushover thường cho thấy yêu cầu về độ dẻo tại một số vị trí cao hơn so với dự đoán của phương pháp tuyến tính. Nó cũng cung cấp một bức tranh rõ ràng hơn về cơ chế phá hoại, giúp xác nhận rằng cơ chế tầng mềm đã được ngăn chặn. Lực cắt đáy cực hạn từ đường cong Pushover cũng có thể được so sánh với lực cắt đáy thiết kế từ phương pháp tĩnh, qua đó đánh giá được hệ số dự trữ an toàn thực tế của công trình.

5.2. Đánh giá sự hình thành khớp dẻo và cơ chế phá hoại

Quan sát trình tự xuất hiện của các khớp dẻo là một trong những giá trị lớn nhất của phân tích Pushover. Trong ví dụ tính toán, các khớp dẻo màu xanh (tương ứng cấp độ IO) bắt đầu xuất hiện ở các dầm tầng 3-6, sau đó chuyển sang màu vàng (cấp độ LS) khi chuyển vị tăng lên. Quan trọng là, các cột, đặc biệt là các cột bên dưới dầm chuyển, vẫn duy trì trong vùng làm việc đàn hồi hoặc chỉ xuất hiện các khớp dẻo ở mức độ hư hỏng nhẹ cho đến giai đoạn cuối của phân tích. Điều này khẳng định rằng cơ chế phá hoại mong muốn đã đạt được. Dầm chuyển và các cột đỡ nó cho thấy khả năng chịu lực tốt, đảm bảo sự ổn định cho toàn bộ kết cấu phía trên.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DẠNG HỆ KẾT CẤU CÓ DẦM CHUYỂN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HỆ KẾT CẤU ĐƯỢC SỬ DỤNG HIỆN NAY 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ KẾT CẤU CÓ DẦM CHUYỂN Ngày nay, nhà nhiều tầng đều là những công trình phức hợp đáp ứng nhiều công năng: thương mại, dịch vụ ở các tầng dưới, văn phòng làm việc và căn hộ ở các tầng bên trên. Yêu cầu này đòi hỏi các nhịp khung lớn ở bên dưới và các nhịp khung nhỏ hơn ở các tầng trên. Giải pháp đòi hỏi một kết cấu chuyển giữa các tầng.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, kết cấu dầm (sàn) chuyển đã được sử dụng cho các công trình: Hùng Vương Plaza (37 tầng), Sài Gòn Pearl (39 tầng), Sealing Tower (26 tầng), căn hộ cao cấp Hạnh Phúc (20 tầng), cao ốc văn phòng Nhơn Trạch – Đồng Nai (17 tầng). Tại Đà Nẵng, công trình khách sạn Grand Mercure (22 tầng) cũng sử dụng hệ kết cấu dầm (sàn) chuyển. Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu và phân tích kết cấu dầm (sàn) chuyển chưa được phổ biến rộng rãi tại Việt Nam. Đặc điểm dầm chuyển Ưu điểm Giải quyết được việc “trốn cột”, tạo không gian lớn cho tầng bên dưới, kết cấu chuyển có khả năng vượt nhịp lớn, nhịp có thể lên đến 16-20m, giảm kích thước cấu kiện của các tầng trên kết cấu chuyển.

Khuyết điểm Tải trọng tập trung bên trên kết cấu dầm chuyển khá lớn, khi xảy ra động đất kết cấu rất dễ phá hoại. Tính toán, thi công dầm chuyển tương đối phức tạp, khó khăn trong lắp dựng giàn giáo cũng như đổ bê tông toàn khối cấu kiện lớn. Trọng lượng bản thân công trình phân bố không đồng điều, tập trung khối lượng lớn ở tầng có dầm chuyển làm cho công trình dễ mất ổn định khi có ngoại lực tác dụng vào công trình (động đất, gió bão) và các kết cấu bên dưới của dầm chuyển dễ mất ổn định. Các dạng dầm chuyển trong hệ kết cấu Theo hình học kết cấu chuyển có 4 dạng cơ bản sau 5 Hình 1.

Dầm đỡ 1 hoặc nhiều cột Hình 1. Dầm đỡ vách liên tục Hình 1. Dầm đỡ vách không liên tục Trong kết cấu chuyển chia ra 3 cấu kiện (bộ phận) cơ bản sau: - Cấu kiện truyền tải bên trên dầm chuyển - Cấu kiện nhận tải – dầm chuyển - Cấu kiện chống đỡ bên dưới dầm chuyển Việc sử dụng dầm chuyển trong hệ kết cấu phụ thuộc nhiều vào việc bố trí mặt bằng của công trình. Dạng kết cấu hợp lý của công trình thường sử dụng nhiều cột đối với các tầng dưới và bố trí các không gian đòi hỏi nhịp lớn (như không gian hội họp, sân khấu …) tại vị trí các tầng trên.

Tuy nhiên, theo yêu cầu về công năng sử dụng của kiến trúc, các không gian rộng lớn như nhà hàng, siêu thị, sân khấu cần bố trí tại vị trí các tầng dưới cho tiện việc sử dụng, điều này dẫn đến cần phải có hệ kết cấu dầm chuyển để tạo được các nhịp có kích thước lớn tại các tầng dưới. 6 (a) Hệ khung hợp lý về mặt kết cấu (b) Hệ khung theo yêu cầu của kiến trúc Hình 1. Sơ đồ khung theo yêu cầu kết cấu và kiến trúc 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HỆ KẾT CẤU TRONG THIẾT KẾ KHÁNG CHẤN Mục đích của thiết kế theo TCVN 9386:2012 nhằm đảm bảo hai mục tiêu làm việc: “hạn chế hư hỏng” với những trận động đất có tần suất thường xuyên và “không sụp đổ” trong các trận động đất lớn.

Để chịu được các trận động đất này, TCVN 9386:2012 cho phép kết cấu xảy ra một trong hai ứng xử: tiêu tán năng lượng (dẻo) hoặc không tiêu tán năng lượng (đàn hồi). Nguyên tắc thiết kế và cấu tạo được cung cấp để phản ánh khả năng dẻo dự định trong những vùng tới hạn đó. Đặc biệt, cho trường hợp kết cấu BTCT, khi sự làm việc như vậy chỉ có thể đạt được nếu sự suy giảm độ bền trong các vòng lặp “trễ” được đảm bảo bởi chi tiết của các vùng tới hạn. Ba cấp tiêu tán năng lượng được giới thiệu trong TCVN 9386:2012: - Cấp dẻo thấp (DCL): Hầu như không có độ dẻo “trễ” được thiết kế và khả năng chịu tải trọng động đất thông qua độ bền của kết cấu chứ không phải độ dẻo.

7 - Cấp dẻo vừa (DCM): Cho phép một mức độ khá cao của độ dẻo, tương ứng với các yêu cầu thiết kế và chi tiết cấu tạo được áp dụng. - Cấp dẻo cao (DCH): Cho phép ứng xử phi đàn hồi lớn, các yêu cầu về thiết kế và chi tiết cấu tạo phức tạp hơn. Trong nhiều trường hợp, thiết kế với giả thiết hệ kết cấu vẫn đàn hồi trong trận động đất lớn sẽ là không kinh tế vì lực yêu cầu sẽ rất lớn. Một thiết kế kinh tế hơn có thể đạt được bằng cách chấp nhận một số mức độ hư hỏng nhẹ và sử dụng độ dẻo của kết cấu để giảm lực yêu cầu đến mức chấp nhận được.

Sự chảy dẻo của một kết cấu cũng có tác dụng hạn chế lực quán tính. Trong TCVN 9386:2012, việc giảm lực này được xác định bởi hệ số ứng xử q: Fel q (1.1) Fy Trong đó: Fel: Lực quán tính lớn nhất của hệ SDOF đáp ứng đàn hồi trong trận động đất. Fy: Lực quán tính tại điểm chảy dẻo đầu tiên của hệ. Sự tương đương của độ dẻo và hệ số ứng xử với chuyển vị đàn hồi và phi đàn hồi Khi thiết kế kết cấu có xét phản ứng phi đàn hồi khi chịu động đất, phương pháp đơn giản và sử dụng rộng rãi nhất là sử dụng các phương pháp phân tích đàn hồi tuyến tính nhưng với các lực thiết kế được giảm bằng hệ số ứng xử q.

Trong nhiều trường hợp phức tạp, cách tiếp cận hệ số q có thể không chính xác và sự làm việc phi đàn hồi của kết cấu cần được mô tả thực tế hơn. Trong những trường hợp này, một phân tích phi tuyến nên được thực hiện bằng cách sử dụng một trong hai phương pháp: tĩnh phi tuyến (pushover) hoặc phân tích thời gian lịch sử phi 8 tuyến. Thay vì sử dụng một hệ số duy nhất, các phương pháp này yêu cầu các đặc trưng lực – biến dạng phi tuyến của mỗi cấu kiện. Phương pháp tĩnh lực ngang tương đương Phương pháp tĩnh lực ngang tương đương là phương pháp trong đó lực quán tính do lực động đất sinh ra tác động lên công trình theo phương ngang được thay bằng các tĩnh lực ngang tương đương.

Trong phương pháp này, độ bền thực tế của công trình được giả định là cao hơn so với độ bền thiết kế và kết cấu có thể tiêu tán năng lượng thông qua chảy dẻo. Vì vậy, một phân tích tĩnh được thực hiện để xác định lực cắt đáy bằng cách giảm phổ phản ứng đàn hồi bằng một hệ số ứng xử q. Sau đó, lực cắt đáy được phân phối trở lại trên chiều cao công trình tại các vị trí có khối lượng tập trung, thường là tại cao trình bản sàn. * Nội dung phương pháp: - Ước tính chu kỳ cơ bản: T1  Ct .75 Trong đó: Ct = 0,085 đối với khung thép không gian chịu momen.

Ct = 0,075 đối với khung bê tông không gian chịu momen và khung thép có giằng lệch tâm. Ct = 0,05 đối với các kết cấu khác. 4TC - Kiểm tra: T1   và tiêu chí đều đặn theo mặt đứng  2s - Xác định lực cắt đáy : Tổng lực cắt đáy tại chân công trình Fb theo mỗi phương được xác định theo công thức sau : Fb  .2) Trong đó : Sd(T1): Tung độ của phổ thiết kế tại chu kỳ T1. m: Tổng khối lượng của công trình trên móng.

 : Hệ số hiệu chỉnh.  = 0,85 nếu T1  2TC với nhà có trên hai tầng và  = 1 với các trường hợp khác. - Phân phối tải trọng ngang lên các tầng: z i mi Fi  Fb  z jm j (1.3) Trong đó: Fi : Lực ngang tác dụng tại tầng i. 9 Fb : Lực cắt đáy thiết kế.

mi; mj: Khối lượng các tầng. zi; zj: Độ cao của khối lượng tầng so với điểm đặt tác động động đất khi coi chuyển vị nằm ngang tăng tuyến tính dọc theo chiều cao ở dạng dao động cơ bản. Phương pháp này có hạn chế là không áp dụng được cho các công trình có hình dạng không đồng đều hoặc có sự phân bố khối lượng và độ cứng không đều trong mặt bằng cũng như chiều cao công trình, không cung cấp được các thông tin về sự làm việc của công trình trong thời gian động đất. Phương pháp phổ phản ứng Đối với các công trình lớn và phức tạp, việc sử dụng phương pháp tĩnh lực ngang tương đương trong thiết kế kháng chấn thường không đủ độ chính xác cần thiết nên trong nhiều trường hợp phải dùng phương pháp động để xác định phản ứng của kết cấu.

Trong số các phương pháp động thì phương pháp phổ phản ứng là đơn giản nhất, có thể áp dụng cho tất cả các loại kết cấu khi thiết kế kháng chấn. * Nội dung phương pháp: - Phải xét đến các dạng dao động góp phần đáng kể vào phản ứng tổng thể của nhà. Đó là các dạng dao động mà thỏa mãn 1 trong 2 điều kiện sau đây: + Tổng khối lượng hữu hiệu của các dạng dao động được xét đến chiếm ít nhất 90% tổng khối lượng của kết cấu: 2  n    zi,j .W j=1 2 i,j j + Tất cả các dạng dao động có khối lượng hữu hiệu lớn hơn 5% tổng khối lượng của kết cấu. - Tổ hợp các tác động động đất: E E  E EI 2 1.

CÁC TIÊU CHÍ PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ 1. Xem xét độ cứng và chuyển vị Độ cứng ảnh hưởng lớn trong việc đáp ứng các quy định về hạn chế hư hỏng và xem xét ảnh hưởng của hiệu ứng bậc hai. Cả hai ảnh hưởng này thông qua giới hạn chuyển vị ngang thiết kế tương đối giữa các tầng dr/h và hệ số độ nhạy của chuyển vị ngang tương đối giữa các tầng θ. Trong cả hai trường hợp, chuyển vị gây ra bởi các tác động động đất thiết kế được xác định như sau: d s  q d .5) 10 Trong đó: der: Chuyển vị từ phân tích đàn hồi tuyến tính.

qd: Hệ số ứng xử chuyển vị. Khi chu kỳ phản ứng của công trình lớn hơn TC thì qd bằng hệ số ứng xử q, tức là chuyển vị dẻo bằng chuyển vị đàn hồi từ đầu vào phổ không giảm. Tuy nhiên, qd lớn hơn q khi chu kỳ bé hơn được xác định tại Phụ lục B của TCVN 9386:2012.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ