MỞ ĐẦU. ý do chọn đề tài. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. nghĩa lý luận ý nghĩa thực tiễn.
Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tƣợng khách thể và phạm vi nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Khung phân tích. 16 NỘI DUNG CHÍNH. 17 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ U N VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI. Các khái niệm công cụ.
Khái niệm nhận thức. Khái niệm trẻ em. Khái niệm quyền trẻ em. Khái niệm quyền được bảo vệ của trẻ em.
Khái niệm cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý. ý thuyết nghiên cứu. Lý thuyết hành động xã hội. Tiếp cận quyền con người trong nghiên cứu quyền trẻ em.
Quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về quyền trẻ em. Quan điểm của Đảng về quyền trẻ em. Chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền trẻ em. 30 1 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NH N THỨC CỦA C N Ộ C N Ộ ÃNH ĐẠO QUẢN VỀ NH M QUYỀN ĐƢ C ẢO VỆ CỦA TR EM.
Mô tả mẫu điều tra. Nhận thức của cán bộ cán bộ lãnh đạo, quản lý về Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em và uật ảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em. Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về nhóm quyền được bảo vệ được quy định trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về quyền trẻ em theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam. Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về nhóm quyền được bảo vệ được quy định trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam. Một số hình thức giáo dục con cái của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý khi con mắc lỗi. NHỮNG NHÂN TỐ T C ĐỘNG ĐẾN NH N THỨC CỦA C N Ộ C N Ộ ÃNH ĐẠO QUẢN VỀ NH M QUYỀN ĐƢ C ẢO VỆ CỦA TR EM HIỆN NAY.
Nhóm yếu tố về văn hóa phong tục tập quán ở Việt Nam. Nhóm yếu tố về pháp luật. Nhóm yếu tố về xã hội. 82 KIẾN NGHỊ GIẢI PH P VÀ KẾT U N.
86 DANH MỤC TÀI IỆU THAM KHẢO. 97 2 DANH MỤC C C CHỮ VIẾT TẮT BV, CS&GD : ảo vệ chăm sóc và giáo dục Đ Q : ãnh đạo quản lý TW : Trung ƣơng XNK : Xuất nhập khẩu QT : Quốc tế 3 DANH MỤC C C ẢNG Bảng 2. Khối công tác, cấp làm việc của cán bộ, cán bộ LĐ, QL .2: Quan niệm của cán bộ, cán bộ LĐ, QL về quyền trẻ em theo Công ước QT.3: Tương quan tuổi của cán bộ, cán bộ LĐ, QL về quyền trẻ em theo Công ước QT .4: Các quyền thuộc nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em trong Công ước QT.5: Tương quan giới tính của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em.6: Tương quan khối công tác của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em .7: Các quyền thuộc Luật BV,CS&GD trẻ em của việt Nam .8: Tương quan trình độ học vấn của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với nhóm quyền được bảo vệ .9: Tương quan cấp làm việc của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với nhóm quyền được bảo vệ.10: Tương quan cấp làm việc của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với quan niệm bạo hành trẻ em .1: Nhóm yếu tố pháp luật. 81 4 DANH MỤC IỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Độ tuổi của cán bộ, cán bộ LĐ, QL .2: Cán bộ, cán bộ LĐ, QL biết đến Công ước QT về quyền trẻ em .3: Nguồn thông tin cán bộ, cán bộ LĐ, QL biết đến Công ước QT.5: Hình thức giáo dục của cán bộ, cán bộ LĐ, QL khi con mắc lỗi63 Biểu đồ 2.6: Trình độ học vấn của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với hình thức giáo dục khi con mắc lỗi .7: Quan niệm của cán bộ, cán bộ LĐ, QL về bạo hành trẻ em .1: Nhóm yếu tố văn hóa, phong tục tập quán.
Nhóm yếu tố về xã hội. ý do chọn đề tài Từ ngày thành lập Đảng và Nhà nước cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán coi nhiệm vụ BV,CS&GD trẻ em là một nội dung cơ bản của chiến lược con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Bởi vì, trẻ em có vai trò hết sức quan trọng đối với gia đình và xã hội. Năm 1990, Việt Nam đã ký Công ước QT về quyền trẻ em, trở thành nước đầu tiên ở châu Á, nước thứ hai trên thế giới chính thức cam kết cùng cộng đồng quốc tế ra sức BV,CS&GD trẻ em.
Qua hơn hai mươi năm thực hiện Công ước QT, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật đẩy mạnh công tác BV,CS&GD trẻ em, đặc biệt là việc ban hành, bổ sung, sửa đổi Luật BV,CS&GD trẻ em, đảm bảo việc thực hiện quyền trẻ em không chỉ mang ý nghĩa đạo lý sâu sắc mà còn mang tính pháp lý chặt chẽ. Việc thực hiện quyền trẻ em ở nước ta bước đầu đã đạt được những thành quả quan trọng, được nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm, giải quyết nhằm đảm bảo cho trẻ em có điều kiện tốt nhất để phát triển toàn diện. Bởi lẽ, mỗi đứa trẻ sinh ra là kết quả tình yêu của cha mẹ, là hạnh phúc, tương lai của mỗi gia đình và toàn thể xã hội.
Một đứa trẻ sẽ phát triển toàn diện khi được sống trong gia đình có sự yêu thương, chăm sóc, đùm bọc và che chở của cha mẹ. Trẻ em ngày nay được chăm sóc rất tốt, được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu để phát triển một cách toàn diện nhất. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ những đứa trẻ đang phải sống trong tình cảnh hết sức khó khăn, bị cha mẹ hành hạ, sử dụng bạo lực. Vì thế, xã hội cần đặc biệt chú trọng đến các nhóm trẻ này, đặc biệt là nhóm trẻ có hoàn cảnh khó khăn như: trẻ em thiệt thòi, trẻ em khuyết tật, trẻ em là 6 nạn nhân của bạo lực gia đình, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em mồ côi không nơi nương tựa.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường đã đưa Việt Nam hội nhập cùng Thế giới. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá dần phát triển kéo theo mức sống của người dân ngày một ổn định hơn. Tuy nhiên, điều đó cũng khiến cho khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng chênh lệch. Khi nông thôn bước vào quá trình đô thị hoá đem lại nhiều cơ hội lao động cho một bộ phận dân cư nhưng đồng thời kéo theo một lượng lớn người dân có nguy cơ bị thất nghiệp cao, gia đình rơi vào khủng hoảng dẫn đến những biến động lớn trên mọi mặt.
Nhiều gia đình phải rời bỏ nông thôn lên đô thị tìm kế sinh nhai nhưng cuộc sống của họ gặp rất nhiều trắc trở. Chính vì thế mà xung đột gia đình xuất hiện cộng thêm sự khủng hoảng kinh tế gia đình đã dẫn đến các cuộc bạo lực gia đình, tranh chấp tài sản, đánh đập con cái hay ly hôn… Và hậu quả của những cuộc tranh cãi, ly hôn đó đã đẩy những đứa trẻ ngây thơ, bé bỏng trở thành những trẻ em mồ côi lang thang đường phố, không nơi nương tựa. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Bên cạnh đó, Học viện còn là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cán bộ LĐ, QL trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý.
Đối tượng được đào tạo tại Học viện Trung tâm là cán bộ, cán bộ LĐ, QL ở cấp TW; tỉnh, thành phố; quận, huyện, các Bộ, ban, ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, bao gồm: Vụ trưởng, phó vụ trưởng và 7 tương đương trở lên của các bộ, ban, ngành, đoàn thể, đảng ủy trực thuộc Trung ương; tỉnh ủy viên, thành ủy viên, trưởng, phó các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, thành phố trở lên; cán bộ chủ chốt cấp huyện (Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân) và tương đương; cán bộ được quy hoạch vào các chức danh này. Đánh giá một cách đầy đủ và khoa học về nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ, QL về vấn đề quyền được bảo vệ của trẻ em sẽ mang đến cái nhìn mới mẻ và toàn diện hơn về vấn đề này. Họ có nhận thức như thế nào về quyền được bảo vệ trẻ em? Họ cần phải làm gì để triển khai thực hiện quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay với cương vị là những người cán bộ, cán bộ lãnh đạo đạo, quản lý. Qua đó, đề tài "Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay" sẽ mang đến một góc nhìn mới mẻ hơn về vấn đề này.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Trẻ em là nhóm đối tượng đặc biệt cần sự quan tâm rất lớn của Đảng, Chính phủ và các tổ chức xã hội. Việt Nam là nước phê chuẩn Công ước QT về quyền trẻ em từ năm 1990, trải qua 25 năm áp dụng trong thực tiễn cũng như việc sửa đổi, bổ sung Luật BV,CS&GD trẻ em cho thấy công tác trẻ em ngày càng được coi trọng nhằm đáp ứng đầy đủ các nhu cầu để trẻ phát triển một cách toàn diện nhất. Khái quát tình hình nghiên cứu về quyền trẻ em ở Việt Nam thời gian qua, có thể nhận định rằng, đã có rất nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về các vấn đề của trẻ em nói chung và quền trẻ em nói riêng được triển khai và đem lại những giá trị, ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010 của tác giả Võ Kim Hương giới thiệu đã mang lại cái nhìn mới.