Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là trung tâm du lịch biển trọng điểm quốc gia, đón gần 4,5 triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước vào năm 2018. Sự phát triển vượt bậc về kinh tế du lịch và dịch vụ thương mại một mặt nâng cao đời sống dân cư, mặt khác làm nảy sinh nhiều nguy cơ phức tạp về an ninh trật tự, đặc biệt là sự gia tăng của tội phạm xâm phạm quyền sở hữu. Trong giai đoạn 2014 – 2018, trên địa bàn thành phố Nha Trang đã xảy ra 493 vụ án trộm cắp tài sản với 678 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố đưa ra xét xử sơ thẩm. Tội phạm trộm cắp tài sản chiếm tới 28,1% tổng số vụ án hình sự và 27,8% tổng số người phạm tội nói chung trên toàn địa bàn.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu bắt nguồn từ sự chuyển biến phức tạp về phương thức, thủ đoạn phạm tội có tổ chức và xu hướng dịch chuyển đặc điểm nhân thân của người phạm tội trong môi trường đô thị du lịch biển. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là nhận diện toàn diện các đặc điểm nhân chủng học xã hội, tâm lý đạo đức và pháp lý hình sự của người phạm tội trộm cắp; phân tích các nguyên nhân, điều kiện hình thành nhân thân tiêu cực; từ đó xây dựng hệ thống giải pháp phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ đồng bộ. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 493 vụ án với 678 người phạm tội trộm cắp tài sản bị xét xử sơ thẩm tại thành phố Nha Trang trong mốc thời gian 5 năm, từ năm 2014 đến năm 2018. Luận văn có ý nghĩa then chốt trong việc hoàn thiện lý luận tội phạm học thực nghiệm, cung cấp các chỉ số thực chứng giúp nâng cao hiệu lực kiểm soát địa bàn và kiềm chế tỷ lệ tái phạm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết tội phạm học hiện đại về nhân thân người phạm tội kết hợp cùng lý thuyết tương tác xã hội và lý thuyết kiểm soát xã hội để luận giải cơ chế hình thành hành vi lệch chuẩn. Khung pháp lý nền tảng của nghiên cứu dựa trên các quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội Trộm cắp tài sản, cùng hệ thống các văn bản tố tụng hình sự hiện hành. Nghiên cứu tập trung giải thích 5 khái niệm chuyên ngành then chốt:

Thứ nhất, nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản được xác định là tổng hợp các đặc điểm sinh học, tâm lý, xã hội và pháp lý hình sự phản ánh bản chất của chủ thể, kết hợp với hoàn cảnh khách quan thúc đẩy việc thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản. Thứ hai, tội phạm trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt bí mật tài sản đang thuộc quyền quản lý của người khác. Thứ ba, cơ số tội phạm là tỷ lệ số người phạm tội trên 100.000 dân cư tại một đơn vị lãnh thổ trong một năm. Thứ tư, mật độ tội phạm là số lượng người phạm tội tính trên diện tích 1 km². Thứ năm, tái phạm và tái phạm nguy hiểm là các tình tiết định khung và định tội phản ánh mức độ nguy hiểm xã hội cao của chủ thể theo Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực chứng gồm 493 bản án hình sự sơ thẩm và hồ sơ của 678 bị cáo bị xét xử về tội trộm cắp tài sản tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang trong giai đoạn 2014 – 2018. Dữ liệu thứ cấp bổ trợ được thu thập từ báo cáo tổng kết công tác phòng chống tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân và Công an thành phố Nha Trang.

Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là chọn mẫu toàn bộ (comprehensive sampling) đối với tất cả các vụ án trộm cắp tài sản đã có bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật trong phạm vi 5 năm nghiên cứu. Cỡ mẫu 678 bị cáo bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho tình hình tội phạm rõ trên địa bàn. Nghiên cứu kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích định lượng, phân tổ thống kê, phương pháp quy nạp và đối chiếu so sánh. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm định lượng hóa chính xác các mối tương quan giữa các biến số nhân thân (độ tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú) với diễn biến tội phạm, tạo cơ sở khoa học khách quan để đánh giá bản chất xã hội của hành vi phạm tội tại đô thị ven biển.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực nghiệm trên 493 vụ án và 678 bị cáo giai đoạn 2014 – 2018 tại thành phố Nha Trang đã làm sáng tỏ 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy mô và mức độ liên kết phạm tội gia tăng rõ rệt. Số vụ trộm cắp tăng từ 72 vụ năm 2014 lên 127 vụ năm 2018 (tăng 176,3%); số người phạm tội tăng từ 95 người lên 194 người (tăng 204,2%). Tỷ lệ đối tượng tham gia trung bình trong mỗi vụ tăng từ 1,3 người năm 2014 lên 1,5 người năm 2018, phản ánh sự chuyển dịch rõ nét sang phương thức phạm tội có tổ chức và theo băng nhóm liên tỉnh.

Thứ hai, độ tuổi và cơ cấu giới tính thể hiện tính chất chuyên nghiệp cao. Nhóm đối tượng trên 30 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo với 56,2% (380 người), nhóm từ 18 đến 30 tuổi chiếm 27,2% (185 người), nhóm dưới 18 tuổi chiếm 16,6% (113 người). Nam giới chiếm 88,4% (600 người), nữ giới chiếm 11,6% (78 người). Đối tượng phạm tội chủ yếu là nam giới trưởng thành có đầy đủ năng lực nhận thức và chuẩn bị công cụ chuyên dụng.

Thứ ba, sự thiếu hụt về học vấn và nghề nghiệp là đặc trưng nhân thân phổ biến. Người có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống chiếm tới 80,0% (38,9% không biết chữ và 41,1% học tiểu học, trung học cơ sở); trình độ trung cấp, đại học chỉ chiếm 6,4%. Có tới 88,8% người phạm tội thuộc nhóm không có nghề nghiệp (51,4%) hoặc nghề nghiệp không ổn định (37,4%), trong khi người có việc làm ổn định chỉ chiếm 11,2%.

Thứ tư, tính di biến động cư trú và phân hóa không gian tội phạm rất lớn. Có 65,8% người phạm tội mang hộ khẩu ngoài tỉnh Khánh Hòa và 81,8% (554 người) không có nơi cư trú ổn định tại địa phương. Về địa bàn, xã Vĩnh Ngọc dẫn đầu về cơ số tội phạm với 8,89 người/100.000 dân (gấp 2,45 lần mức trung bình toàn thành phố là 3,62); phường Tân Lập dẫn đầu về mật độ tội phạm với 9,67 người/km² (gấp 12,5 lần mức trung bình toàn thành phố là 0,77).

Thảo luận kết quả

Thực trạng nhân thân tiêu cực của người phạm tội trộm cắp tại Nha Trang phản ánh sự kết hợp giữa các yếu tố chủ quan và tác động tiêu cực của môi trường đô thị hóa nhanh. Lượng khách du lịch khổng lồ và mật độ dòng tiền mặt lưu thông cao tạo ra nhiều sơ hở trong quản lý tài sản, thu hút các đối tượng lưu manh ngoại tỉnh (chiếm 65,8%) thâm nhập địa bàn. Trình độ học vấn thấp (80,0%) kết hợp với tình trạng thất nghiệp (51,4%) dẫn đến sự suy thoái về nhận thức pháp luật, nảy sinh tâm lý lười lao động, ham hưởng thụ và sa vào các tệ nạn như ma túy, cờ bạc.

Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu tội phạm học tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ, nhưng mang tính đặc thù cao do yếu tố thời vụ du lịch tại Nha Trang. Toàn bộ diễn biến này có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ đường kép thể hiện mức tăng trưởng số vụ và số bị cáo giai đoạn 2014 – 2018, kết hợp cùng bản đồ phân bố nhiệt đánh giá hệ số tiêu cực trên 27 xã, phường nhằm tối ưu hóa công tác tuần tra nghiệp vụ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích nhân thân người phạm tội, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tăng cường phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản tại thành phố Nha Trang:

Thứ nhất, tăng cường kiểm soát nhân hộ khẩu và quản lý người cư trú biến động. Công an thành phố Nha Trang phối hợp cùng Ủy ban nhân dân 27 xã, phường tiến hành tổng rà soát 100% cơ sở lưu trú, nhà trọ, nhà ngăn phòng cho thuê; lập hồ sơ quản lý chặt chẽ nhóm đối tượng tạm trú không nghề nghiệp; đặt mục tiêu kéo giảm 25% các vụ trộm cắp do đối tượng ngoại tỉnh gây ra trong lộ trình từ năm 2020 đến năm 2022.

Thứ hai, triển khai chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm có định hướng. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa chủ trì phối hợp với Đoàn Thanh niên thành phố tổ chức phổ biến giáo dục pháp luật và tư vấn nghề cho 80% thanh thiếu niên bỏ học, đối tượng chấp hành xong án phạt tù; thiết lập quỹ trợ vốn tái hòa nhập cộng đồng nhằm hạ tỷ lệ tái phạm trộm cắp xuống dưới 10% trước năm 2023.

Thứ ba, tái cơ cấu mạng lưới an ninh tuần tra theo bản đồ mật độ tội phạm. Lực lượng Cảnh sát trật tự và Dân quân tự vệ tập trung nguồn lực tuần tra khép kín 3 ca/ngày tại 5 địa bàn có hệ số tiêu cực cao nhất gồm phường Tân Lập, Vĩnh Phước, Xương Huân, xã Vĩnh Ngọc và Vĩnh Hiệp; kết hợp lắp đặt hệ thống giám sát camera thông minh, hướng tới mục tiêu giảm 30% mật độ tội phạm trên mỗi kilômét vuông đô thị trước năm 2022.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành trong công tác điều tra, truy tố, xét xử. Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang áp dụng triệt để các tình tiết định khung về tính chất chuyên nghiệp và tái phạm nguy hiểm theo Điều 173 Bộ luật Hình sự; phấn đấu rút ngắn 100% thời hạn thụ lý, xét xử các vụ án trộm cắp điểm xuống dưới 45 ngày từ năm 2021 nhằm răn đe mạnh mẽ tội phạm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

Thứ nhất, cơ quan tiến hành tố tụng và lực lượng thực thi pháp luật (Công an, Tòa án, Viện kiểm sát thành phố Nha Trang và tỉnh Khánh Hòa). Các cán bộ điều tra và kiểm sát viên có thể khai thác hồ sơ phân tích 678 bị cáo để nhận diện dấu hiệu nhân thân của các băng nhóm trộm cắp chuyên nghiệp, hỗ trợ đắc lực cho công tác sàng lọc đối tượng, lập chuyên án triệt phá và định khung hình phạt chính xác.

Thứ hai, các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương tại các đô thị du lịch. Cán bộ quản lý trật tự xã hội có thể vận dụng các chỉ số về trình độ học vấn (80% dưới THCS) và nghề nghiệp (88,8% bấp bênh) để xây dựng chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm cho người nhập cư và quy hoạch hệ thống camera giám sát địa bàn.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Tội phạm học, Luật Hình sự. Công trình cung cấp bộ cơ sở dữ liệu định lượng 5 năm chuẩn mực cùng phương pháp luận khảo sát nhân thân tội phạm, đóng vai trò là tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về tội phạm sở hữu đô thị.

Thứ tư, các doanh nghiệp dịch vụ lưu trú, lữ hành và ban quản lý khu du lịch. Các nhà quản lý khách sạn và khu nghỉ dưỡng có thể ứng dụng kết quả phân tích mật độ tội phạm tại các phường trọng điểm (Tân Lập, Xương Huân) để thiết lập quy trình bảo vệ tài sản du khách và nâng cao cảnh giác nội bộ.

Câu hỏi thường gặp

Tình hình tội phạm trộm cắp tài sản tại thành phố Nha Trang giai đoạn 2014 – 2018 diễn biến thế nào? Số vụ trộm cắp tài sản tăng liên tục từ 72 vụ năm 2014 lên 127 vụ năm 2018, tương đương mức tăng 176,3%. Tổng số bị cáo bị xét xử sơ thẩm trong 5 năm là 678 người, chiếm 27,8% tổng số người phạm tội trên địa bàn, cho thấy loại tội phạm này chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng phổ biến trong cơ cấu tội phạm đô thị.

Đặc điểm về độ tuổi và giới tính của người phạm tội trộm cắp có gì đáng lưu ý? Nam giới chiếm tỷ lệ áp đảo với 88,4% (600 người), nữ giới chiếm 11,6% (78 người). Về độ tuổi, nhóm đối tượng trên 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 56,2% (380 người), nhóm từ 18 đến 30 tuổi chiếm 27,2% (185 người), và nhóm dưới 18 tuổi chiếm 16,6% (113 người), phản ánh tính chất phạm tội có ý thức và toan tính cao.

Trình độ học vấn và tình trạng việc làm ảnh hưởng như thế nào đến hành vi phạm tội? Thống kê chỉ ra 80,0% người phạm tội có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống (38,9% không biết chữ) và 88,8% người phạm tội không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp bấp bênh. Sự hạn chế về học vấn dẫn đến thiếu hiểu biết pháp luật, cùng với thu nhập bấp bênh là động lực chính thúc đẩy hành vi chiếm đoạt tài sản.

Yếu tố nơi cư trú tác động ra sao đến cơ cấu tội phạm trộm cắp tại Nha Trang? Có tới 65,8% (446 người) mang hộ khẩu ngoài tỉnh Khánh Hòa và 81,8% (554 người) không có nơi cư trú ổn định tại địa phương. Nha Trang là đô thị du lịch thu hút lượng lớn lao động thời vụ và khách vãng lai, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng lưu động thực hiện hành vi trộm cắp rồi nhanh chóng lẩn trốn.

Đơn vị hành chính nào tại Nha Trang có mức độ nguy cơ trộm cắp tài sản cao nhất? Xã Vĩnh Ngọc có cơ số tội phạm cao nhất với 8,89 người/100.000 dân (gấp 2,45 lần mức trung bình toàn thành phố là 3,62), trong khi phường Tân Lập dẫn đầu về mật độ tội phạm với 9,67 người/km² (gấp 12,5 lần mức trung bình 0,77). Xét theo hệ số tiêu cực tổng hợp, phường Tân Lập và Vĩnh Phước là hai địa bàn nguy hiểm nhất.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa sâu sắc lý luận tội phạm học về nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản trong điều kiện phát triển kinh tế du lịch.
  • Phân tích thực chứng toàn diện 493 vụ án với 678 bị cáo bị xét xử sơ thẩm giai đoạn 2014 – 2018 tại thành phố Nha Trang với các số liệu tin cậy.
  • Nhận diện các đặc trưng nhân thân cốt lõi gồm: 88,4% là nam giới, 56,2% trên 30 tuổi, 80,0% học vấn dưới THCS, 88,8% thiếu việc làm ổn định và 65,8% là đối tượng ngoại tỉnh.
  • Xác lập bản đồ phân hóa không gian tội phạm trên 27 xã, phường, định vị các điểm nóng trọng điểm như Tân Lập, Vĩnh Phước và Vĩnh Ngọc.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá, kết hợp quản lý nhân hộ khẩu, đào tạo nghề an sinh và tối ưu hóa tuần tra nghiệp vụ theo bản đồ nhiệt.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản tại các đô thị biển. Trong giai đoạn 2019 – 2025, việc mở rộng phân tích dữ liệu số hóa kết hợp camera giám sát thông minh sẽ là bước đi tiếp theo cần được triển khai. Các cơ quan tư pháp, nhà nghiên cứu và lực lượng chức năng hãy ứng dụng ngay kết quả nghiên cứu này để xây dựng môi trường du lịch Nha Trang an toàn, văn minh và bền vững.