CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Chương một đưa ra nhiều khái niệm nền tảng cho vấn đề nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lưc. Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nên tác giả đưa ra các tiêu chí khác nhau về đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và các nhân tố bên trong, bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực 1. Khái niệm nhân lực Một tổ chức bao gồm các thành viên nhân sự hoặc nguồn nhân lực.
Vì vậy, có thể hiểu nguồn nhân lực là nguồn lực của tất cả mọi người, bao gồm cả thể lực và trí lực.7-8] “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp ” là quan điểm của PGS.TS Nguyễn Thị Minh An [1, tr. Nguồn nhân lực là nguồn lực từ tất cả mọi người. Nguồn nhân lực bao gồm thể lực và trí lực. Nguồn lực này phát triển cùng với sự phát triển của con người.
Khi nguồn lực này đủ lớn sẽ tạo điều kiện cho mọi người tham gia lao động, sản xuất. [17] Do đó, nguồn nhân lực sẽ khác so với các nguồn lực khác (vốn, công nghệ, máy móc,…) trong một doanh nghiệp. Nhân lực là sức mạnh của mọi người tạo nên sức mạnh của mọi người. Sức mạnh này lớn lên cùng với sự phát triển của cơ thể con người, bao gồm cả nguồn lực hiện có và tiềm năng.
Tiềm năng này được thể hiện qua các tiêu chí về thể lực, trí tuệ và nhân cách. Trong quá trình phát triển nguồn nhân lực, các yếu tố như số lượng nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và cơ cấu nguồn nhân lực đều được quan tâm. Vì vậy, dựa trên lý thuyết nguồn nhân lực nêu trên, nguồn nhân lực có thể được xác định là một trong những yếu tố không thể thiếu và quan trọng trong bất kỳ tổ chức, 8 doanh nghiệp nào. Nguồn nhân lực bao gồm tiềm năng về toàn bộ trí óc, thể chất và trí tuệ của mọi người trong một tổ chức, tức là mọi thành viên trong mỗi doanh nghiệp đều sử dụng tri thức, năng lực, hành vi và các giá trị đạo đức để xây dựng, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. “Nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, coi con người là nguồn lực, là động lực của sự phát triển, dùng để chỉ khái niệm nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ khác nhau. Nguồn nhân lực là yếu tố cần thiết của một tổ chức. Nó bao gồm tất cả nhân viên và những người được đóng góp cho tổ chức thông qua các dịch vụ của họ.
Cụ thể, người lao động được coi là nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Bộ phận xử lý các hoạt động quản lý nhân sự của một tổ chức còn được gọi là Bộ phận Nhân sự. Bộ phận này cũng thực hiện quy trình tuyển dụng, phúc lợi cho nhân viên và lương thưởng. Nguồn nhân lực là mạch máu của mọi tổ chức.
Sự tiến bộ của một tổ chức phần lớn phụ thuộc vào khả năng và hiệu suất của họ. Một lực lượng lao động hiệu quả và có năng lực đảm bảo duy trì lâu dài trong ngành. Trong bối cảnh kinh doanh hiện nay, Bộ phận Nhân sự là một trong những bộ phận được yêu cầu nhiều nhất trong bất kỳ tổ chức kinh doanh nào. Bộ phận này đóng một vai trò quan trọng trong việc bố trí đúng người vào vị trí phù hợp trong tổ chức.
Nó hỗ trợ tổ chức sắp xếp hiệu suất của nhân viên với các mục tiêu của nó. Ngoài ra, nó sẽ cho phép các nhà quản lý thuê nhân viên có năng lực, nâng cao hiệu suất của họ thông qua đào tạo và phát triển , sự phát triển của văn hóa hòa nhập và duy trì các mối quan hệ. Các tác giả khác nhau có quan điểm khác nhau đối với nguồn nhân lực. Từ đó, họ xác định Nguồn nhân lực dựa trên kỹ năng, nghiên cứu và kinh nghiệm của họ.
Megginson đã định nghĩa “Nhân sự là tổng số kiến thức, kỹ năng, khả năng sáng tạo, tài năng và năng khiếu của lực lượng lao động của tổ chức, cũng như giá trị, thái độ và niềm tin của những cá nhân có liên quan”. Jucius Michael gọi nguồn nhân lực là 'yếu tố con người', dùng để chỉ "một tổng thể bao gồm các thành phần phụ thuộc lẫn nhau và tác động lẫn nhau, sinh lý, tâm lý, xã hội học và đạo đức." Grey Dessler “Các chính sách và thông lệ cần để thực hiện các khía cạnh con người hoặc nguồn nhân lực của một vị trí quản lý, bao gồm tuyển dụng, sàng lọc, đào tạo, khen thưởng và đánh giá” David A Decenzo và Stephen p. Robbins “Con người được tạo thành từ bốn hoạt động: a) Nhân sự, b) Đào tạo và phát triển, c) Động lực d) Bảo dưỡng. Từ điển Cambridge nêu rõ "Định nghĩa nguồn nhân lực" mọi người, khi được coi là một tài sản có thể được sử dụng và hữu ích cho một công ty, tổ chức, v.
" Trước đây, hành chính nhân sự được coi là bộ phận nhân sự của một tổ chức vì hầu hết các hoạt động liên quan đến nhân viên như tuyển dụng , đào tạo, phúc lợi nhân viên, v. do họ thực hiện trong các tổ chức. Nó đòi hỏi việc lưu trữ hồ sơ của nhân viên, thực hiện các quy định của tổ chức theo luật việc làm. Ngoài ra, quản trị viên nhân sự xác định tiền lương, lương thưởng và các phúc lợi khác của nhân viên.
Người quản lý được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ của nhà quản trị nhằm duy trì một dòng chảy công việc trôi chảy trong tổ chức. Theo nhân sự truyền thống, nhân viên chỉ đơn thuần là nguồn sản xuất trong tổ chức. Trong tình huống hiện tại, một chuyên gia nhân sự hiệu quả phải biết về Cam kết, Quản lý nguồn nhân lực chiến lược, Mô hình nhu cầu công việc-nguồn lực, phân tích nhân sự, hệ thống theo dõi ứng viên, thay đổi nhân viên, báo cáo nhân 10 sự, kinh nghiệm của nhân viên và khảo sát 360 độ. Những khái niệm này hoàn toàn khác với những khái niệm thông thường về HR.
Cùng với đó, những khái niệm về sự phát triển lẫn nhau của tổ chức và nhân viên trong quá trình đạt được mục tiêu. Nói cách khác, người lao động được coi và được coi là Tài sản của con người cho sự phát triển và thăng tiến của tổ chức. Do đó, dựa trên lý thuyết nguồn nhân lực nêu trên, nguồn nhân lực có thể được định nghĩa là tổng thể số lượng và chất lượng của những người có trí tuệ, thể chất và đạo đức làm tiêu chí của họ. , cả hiện tại và tương lai, sẽ được huy động vào quá trình lao động sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của nhân dân.
mỗi tổ chức. Chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Nguồn nhân lực không chỉ cần quan tâm đến số lượng mà còn phải quan tâm đến chất lượng. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chất lượng nhân sự.
Có rất nhiều công trình, bài báo nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực nhưng các nghiên cứu này không chỉ rõ tiêu chí nào nên dùng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, điều kiện nào để làm nên chất lượng nguồn nhân lực. , về nguồn nhân lực Chất lượng, từ các góc độ khác nhau, có những cách hiểu khác nhau. Mặt khác, chất lượng nguồn nhân lực thường ngang bằng với trình độ chuyên môn và trình độ văn hóa của nguồn nhân lực. Tuy nhiên, trình độ chuyên môn và văn hóa của nguồn nhân lực chỉ là một yếu tố phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, do đó có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực.
Dưới đây là một số góc nhìn về chất lượng nhân sự.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh, giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội cho biết: “Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố bên trong cấu thành chất lượng nguồn nhân lực, thể hiện qua các yếu tố sau các tiêu chí: sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn / kỹ năng,… Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc 11 vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực của chính phủ quốc gia ”[2, tr. Theo tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh trong bài “Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam” đăng trên website của Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính, Bộ Tài chính năm 2021 đã nêu: Chất lượng nguồn nhân lực là một thực trạng của vấn đề. Nguồn nhân lực không chỉ là một đối tượng vật chất đặc biệt, mà còn là một trạng thái nhất định của chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các đặc điểm, phản ánh tính chất, đặc thù liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất và phát triển con người.
Nguồn nhân lực chất lượng cao có tác dụng nâng cao năng suất lao động. Trong thời đại khoa học và công nghệ ngày càng tiến bộ, một quốc gia cần và có thể đặt chất lượng nguồn nhân lực lên trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất trong nước để đáp ứng được tiến bộ của khoa học công nghệ và bắt kịp với nhịp sống của thế giới. sự phát triển của loài người. Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu chí về thể lực, trí tuệ, đạo đức và phẩm chất.
Vũ Thị Ngọc Phụng: “Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá bằng trình độ học vấn, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp và sức khỏe của người lao động” [7, tr. Theo quan điểm này, chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu chí: trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn và kỹ năng, sức khỏe của người lao động. Các tiêu chuẩn này được định lượng theo trình độ học vấn, trình độ đào tạo chuyên môn và có thể được đo lường tương đối dễ dàng. Theo quan điểm của Giáo sư Pei Wenren về chất lượng nguồn nhân lực, ông cho rằng chất lượng nguồn nhân lực bao gồm 3 yếu tố chính là chất lượng trí tuệ, thể chất và tâm lý.