chương 1, quyết định 65/2007/QĐ-BGDĐT quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học của Bộ GD & ĐT nêu rõ: “Chất lượng giáo dục trường đại học là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.” [4] Theo tác giả Lê Đức Ngọc, Lân Quang Thiện (2013): “Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đề ra đối với một chương trình đào tạo” Theo tác giả Trần Khánh Đức: “Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể”. [12] Sản phẩm của đào tạo đại học không giống như bất cứ loại sản phẩm nào của quá trình sản xuất thông thường, nó mang đặc trưng riêng biệt bởi đó chính là “con người lao động”. Chất lượng của sản phẩm đặc biệt này đến đâu thể hiện qua các “phẩm chất”, “giá trị nhân cách” con người, “giá trị sức lao động” ( hay chính là 10 năng lực hành nghề của người tốt nghiệp) tương ứng với các mục tiêu đào tạo của từng lĩnh vực ngành nghề trong hệ thống đào tạo đại học. Ngày nay, với yêu cầu mới được đặt ra đối với các trường ĐH là không chỉ đào tạo những con người có đủ cả đức và tài mà còn phải gắn với NCXH về từng ngành nghề.
Trên thực tế, có rất nhiều sinh viên ra trường với tấm bằng đẹp nhưng vẫn chưa tìm kiếm được việc làm tạo ra vấn nạn thất nghiệp hoặc có việc nhưng công việc không đúng ngành đã được đào tạo. Để đánh giá được CLĐT, cần phải có một hệ thống các tiêu chí tổng hợp và điều trước tiên cần phải kể đến đó là kết quả của đào tạo. Vậy, nâng cao CLĐT chính là làm cho sản phẩm của quá trình đào tạo có giá trị cao thể hiện qua tri thức sâu, kỹ năng nghề nghiệp tốt đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Trong thời đại ngày nay, cách mạng Khoa học – Công nghệ phát triển nhanh như vũ bão tác động trực tiếp và nhanh chóng tới mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội đồng thời cũng tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi để con người không ngừng tăng năng suất lao động.
Thực tế đó đã đặt ra những yêu cầu mới đối với các trường ĐH là phải nghiên cứu, đổi mới các phương pháp đào tạo để phát triển con người một cách toàn diện (đức, trí, thể, mỹ). Hơn nữa, tác động to lớn của Khoa học – Công nghệ lại đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, thông tin bùng nổ, cạnh tranh để phát triển, lượng tri thức của con người tăng lên gấp bội, nếu không nghiên cứu cách thức để lĩnh hội tốt nguồn kiến thức khổng lồ thì với thời gian vật chất có giới hạn, chúng ta sẽ không thể dung nạp đủ lượng kiến thức cũng như các kỹ năng cần có để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời đại. Nói tóm lại, CLĐT đại học là vấn đề được quan tâm nghiên cứu rất nhiều và cũng có nhiều quan điểm được đưa ra đứng từ nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, để nghiên cứu CLĐT của trường ĐH Tài chính – QTKD, luận văn lựa chọn cách tiếp cận từ bên trong có nghĩa là dựa vào mục tiêu của nhà trường về chuẩn đầu ra (Kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi) và đánh giá CLĐT dựa trên ý kiến từ Ban giám hiệu, GV và SV.
Do vậy, CLĐT đối với trường ĐH chính là sự đáp ứng mục tiêu nhà trường đề ra về sản phẩm đầu ra của mình dựa trên các quy định khung mà Bộ GDĐT đã ban hành. Vai trò của việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường đại học - Đối với người học Mỗi sinh viên khi bước chân vào cổng trường đại học đều mong muốn khi ra trường mình sẽ có đủ hành trang là kiến thức và kỹ năng để đáp ứng tốt yêu cầu công việc, để khẳng định mình và để có mức thu nhập xứng đáng. Một trường ĐH tốt là trường có thể giúp SV có được môi trường học tập và trải nghiệm tốt giúp mỗi cá nhân vững về chuyên môn, phát triển toàn diện về kỹ năng nghiên cứu và thực hành nghề nghiệp sau khi ra trường. Được học tại một ngôi trường chất lượng cao cũng giúp sinh viên có được sự nhìn nhận, đánh giá cao từ phía nhà tuyển dụng ngay từ giai đoạn nộp hồ sơ.
Việc không ngừng nâng cao CLĐT giúp cho người học ngày càng có kiến thức, kỹ năng tốt hơn đáp ứng được với yêu cầu ngày càng cao của các đơn vị sử dụng cũng như của thị trường lao động. CLĐT không chỉ là quan tâm của gia đình, nhà trường, các cơ quan quản lý mà còn là mối quan tâm lớn của từng cá nhân. Vì vậy, việc nâng cao CLĐT trong các trường ĐH là một yêu cầu khách quan hiện nay. - Đối với nhà trường CLĐT là mục tiêu sống còn đối với bất kỳ một trường đại học nào.
Chất lượng đi kèm với thương hiệu của trường. Không thể có thương hiệu khi đào tạo kém chất lượng. Để có chất lượng đạt chuẩn, các trường đều phải hết sức nỗ lực về mọi mặt như làm tốt công tác tuyển sinh, CSVC, nâng cao năng lực và trình độ đội ngũ CBGV, huy động các nguồn lực tài chính phục vụ cho hoạt động đào tạo,. Đến nay, số lượng trường đại học trên cả nước đã lên tới trên 200 trường, lượng thí sinh đăng ký thi đại học giảm đáng kể do nền kinh tế đang thừa một số lượng lớn cử nhân thậm chí cả thạc sĩ.
Chưa bao giờ mức độ cạnh tranh giữa các trường lại gay gắt như bây giờ. Nhiều trường ĐH (đặc biệt là trường ngoài công lập) do lo sợ không tuyển được sinh viên nên đã dễ dãi trong khâu tuyển sinh cũng như trong quá trình đào tạo dẫn đến chất lượng đầu ra kém, không đáp ứng được yêu cầu xã hội đặt ra, lượng SV tốt nghiệp ra trường thất nghiệp nhiều và uy tín của 12 nhà trường giảm sút. Khi xã hội đã nhìn nhận một trường đại học theo chiều hướng đi xuống thì nhà trường sẽ đứng trước nguy cơ giải thể. Như vậy, đối với một trường đại học thì CLĐT luôn được coi là mục tiêu hàng đầu và xuyên suốt trong quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành.
- Đối với xã hội Để xây dựng đất nước phồn thịnh, quốc gia nào cũng phải dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài với quan điểm tận dụng triệt để các nguồn nội lực. Điều mà các quốc gia đều nhận thấy rất rõ đó là vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với sự tăng trưởng và phát triển bền vững. Trong xu thế quốc tế hóa, nền kinh tế tri thức đưa những công nghệ ngày càng hiện đại vào sản xuất và đời sống đòi hỏi người lao động phải có khả năng để làm chủ công nghệ mới có thể giúp nền kinh tế phát triển ổn định. Đào tạo và phát triển NNL là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu đối với mỗi một quốc gia.
Nhân lực dồi dào chỉ là điều kiện cần và điều kiện đủ là NNL ấy phải đủ “trình độ, năng lực và phẩm chất” mới có thể làm chủ mọi lĩnh vực, triển khai thực hiện tốt những chương trình, mục tiêu quốc gia đồng thời hướng đến những lợi ích chung cho cộng đồng quốc tế. GD&ĐT tác động trực tiếp đến chất lượng NNL của quốc gia. Hoạt động GDĐT được tổ chức tốt sẽ tạo ra được NNL chất lượng cao cho đất nước. Nâng cao CLĐT chính là mục tiêu nâng cao chất lượng NNL đáp ứng NCXH.
Những nhu cầu đó xuất phát từ phía các đơn vị sử dụng lao động là các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Bất kỳ đơn vị sử dụng lao động nào đặc biệt là khối doanh nghiệp, họ luôn nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng lao động – đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm và uy tín của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng. CLĐT đạt tiêu chuẩn chất lượng cao sẽ cung cấp cho các doanh nghiệp những người lao động tốt tác động trực tiếp đến sản xuất giúp doanh nghiệp xây dựng được thương hiệu và đứng vững trên thị trường. Đất nước ta đang tiến hành CNH, HĐH và hội nhập sâu, việc đào tạo NNL có chất lượng phục vụ cho các NCXH đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm, GDĐT được 13 coi là “quốc sách hàng đầu”.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định sự cần thiết của việc “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam, tập trung chú ý nhiệm vụ nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và coi đó là một đột phá chiến lược”. Để thực hiện thành công nghị quyết của Đảng, các trường đại học đóng một vai trò rất lớn. CLĐT của các trường trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia. CLĐT tốt cho ra đời sản phẩm đầu ra đạt tiêu chuẩn chất lượng giúp nâng cao năng suất lao động, nâng cao dân trí, cải thiện mức thu nhập và mức sống của người dân.
Nguồn nhân lực chất lượng tạo ra ngoại ứng tích cực, lâu dài đối với nền kinh tế. Bất kỳ cơ quan đơn vị nào cũng cần những kĩ sư giỏi, những cán bộ đảm bảo trình độ và năng lực đáp ứng được với những đòi hỏi ngày càng cao của kinh tế thị trường, trong bối cảnh hội nhập và khoa học - kĩ thuật phát triển như vũ bão. Với Việt Nam, chất lượng NNL vẫn là một bài toán khó. Nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã lên tiếng phàn nàn về tính kỷ luật và tác phong trong lao động của người Việt.
Bên cạnh đó, năng suất của lao động Việt Nam khá thấp so với nhiều nước trong khu vực: “Nếu tính năng suất lao động theo giờ công, trong năm 2012, một giờ lao động của một người lao động Singapore tạo ra được 49,5 USD giá trị gia tăng, người Nhật Bản tạo ra 38,4 USD, người Hàn Quốc tạo ra 24,4 USD, người Malaysia tạo ra 20,5 USD.