CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN c ơ BẢN VỂ CẠNH TRANH VÀ s ự CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HOÁ 1.1 Lý luận cơ bản về cạnh tranh 1 .1 K h á i n iệ m Bất cứ DN nào muốn tồn tại và phát triển đều phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh tranh là tất yếu và là đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường. Cạnh tranh là thuộc tính của sản xuất và trao đổi hàng hoá, cạnh tranh tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của hàng hoá. Cạnh tranh còn có nhiều khái niệm khác nhau, cụ thể như sau: - Theo Mark, cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
- Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì cho rằng: cạnh tranh là khả năng của các DN, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. - Theo từ điển Offord, second edition 1989 thì: + Cạnh tranh là hành động cố gắng để đạt được cái mà người khác muốn đạt được trong cùng một thời gian, là sự cố gắng của hai hay nhiều người cho cùng một mục đích. + Cạnh tranh trên thị trường là sự cố gắng để giành lấy bạn hàng giữa những người có điều kiện như nhau để đạt được ý mình. - Theo quan điểm của marketing thì cạnh tranh là tìm cách thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng một cách ưu thế hơn đối thủ cạnh tranh.
Như vậy cạnh tranh là áp lực của môi trường kinh doanh buộc các DN phải áp dụng các biện pháp để tận dụng các điểm mạnh, hạn chế các điểm yếu nhằm đưa ra được giải pháp kinh doanh hợp lý đạt được mục tiêu kinh doanh. Cạnh tranh là điều kiện để DN tồn tại và phát triển.2 P h â n lo ạ i c ạ n h tr a n h Cạnh tranh được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau và tuỳ thuộc vào mục đích phân tích mà người ta chọn tiêu chí để phân loại. Sau đây là một sô cách phân loại chủ yếu: 1.1 C ăn cứ vào chủ th ể Luận văn tốt nghiệp Học viên: Dương Khắc Nga - CHQTKD K10 -10- - Cạnh tranh giữa các tổ chức quốc tế: là cạnh tranh giữa các tổ chức quốc tế nhằm tận dụng các lợi thế của tổ chức quốc tế để tăng cường và bảo vệ lợi ích của tổ chức quốc tế, tức là sử dụng các lợi thế cạnh tranh để vượt lên so với các tổ chức quốc tế khác. - Cạnh tranh giữa các quốc gia: là sự cạnh tranh giữa các quốc gia, bao gồm giữa các quốc gia trong cùng một khối liên kết hay với các quốc gia ngoài khối.
Sự phát triển ngày càng phức tạp hơn của môi trường kinh doanh quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải nỗ lực phát triển và hướng tới việc cạnh tranh không mệt mỏi trên thị trường quốc tế. Cạnh tranh giữa các DN: từng DN cố gắng tận dụng các điểm mạnh của mình để tạo ra lợi thế so với các DN khác nhằm đạt được các mục tiêu mà DN đã đề ra.2 C ăn cứ vào pham vi canh tranh - Cạnh tranh trong khu vực và quốc tế: là cạnh tranh giữa các khối và khu vực kinh tế (Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á - ASEAN, Liên minh châu Âu - EU.) nhằm tận dụng các lợi thế của khối/khu vực để tăng cường và bảo vệ lợi ích của khối/khu vực, tức là sử dụng các lợi thế cạnh tranh của khối/khu vực để vượt lên so với các khối/khu vực và quốc gia khác. - Cạnh tranh trong phạm vi quốc gia: cạnh tranh diễn ra trong phạm vi quốc gia - Cạnh tranh trong phạm vi ngành: + Cạnh tranh nội bộ ngành: sự cạnh tranh giữa các DN cùng sản xuất một loại hay một nhóm hàng hoá dịch vụ tương tự nhau để có được các điều kiện thuận lợi nhất trong việc sản xuất, kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu của DN. Cạnh tranh nội bộ ngành hình thành giá cả thị trường đối với hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá và dịch vụ.
+ Cạnh tranh giữa các ngành: sự cạnh tranh giữa các DN sản xuất, kinh doanh các hàng hoá khác nhau để có được các điều kiện thuận lợi nhất trong việc sản xuất, kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu của DN. Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc di chuyển đầu tư từ ngành có lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao và hình thành nên tỷ xuất lợi nhuận bình quân.3 C ăn c ứ vào trang thái canh tranh - Cạnh tranh hoàn hảo: Là tình trạng của thị trường mà không có sự chi phối của bất cứ doanh nghiệp nào, sự Luận văn tốt nghiệp Học viên: Dương Khắc Nga - CHQTKD K10 -11- gia nhập hay rút lui của DN đó đều không ảnh hưởng tới quan hệ cung-cầu, giá cả hàng hoá. Các DN có thể tự do gia nhập hoặc rút lui. DN phải chấp nhận giá cả thị trường.
Các DN hoàn toàn có thể tiếp cận đầy đủ các thông tin thị trường để ra các quyết định sản xuất kinh doanh của mình. Thực tế cho thấy hầu như không tồn tại thị trường cạnh tranh hoàn hảo bởi vì bất cứ quốc gia nào đều có sự can thiệp của chính phủ vào các chính sách phát triển kinh tế, mà chỉ là thị trường cạnh tranh hoàn hảo ở một mức độ nhất định nào đó (còn gọi là thị trường có thể cạnh tranh được - contestable markets). - Cạnh tranh không hoàn hảo: Là tình trạng của thị trường mà sự gia nhập hay rút lui của một DN hay nhóm DN làm ảnh hưởng tới quan hệ cung-cầu, giá cả hàng hoá. Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo không cho phép các DN gia nhập hay rút lui tự do, các thông tin về thị trường thường không đầy đủ.
Thị trường canh tranh không hoàn hảo thường được thể hiện dưới các hình thức: độc quyền bán, độc quyền mua, độc quyền theo nhóm, tư bản độc quyền nhà nước. Trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, các DN độc quyền quyết định giá thị trường tuỳ theo mức độ độc quyền và thế mạnh của mình.4 C ăn cứ vào tính chất của canh tranh Cạnh tranh lành mạnh: Cạnh tranh được thực hiện theo khuôn khổ của pháp luật, DN đạt được mục tiêu kinh doanh bằng chính năng lực, sức mạnh, uy tín. Cạnh tranh lành mạnh tạo ra tính công bằng, trung thực cho tất cả các thực thể kinh tế và làm cơ sở cho DN nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung phát triển một cách ổn định và bền vững. Cạnh tranh không lành mạnh: cạnh tranh bằng một số thủ đoạn âm mưu, lợi dụng các kẽ hở hay vi phạm luật pháp để tranh giành lợi thế kinh doanh, triệt hạ lẫn nhau, không xuất phát từ nội lực chân chính của DN.
Cạnh tranh không lành mạnh không phải là cơ sở để cho DN tồn tại và phát triển lâu dài.3 V a i tr ò c ủ a c ạ n h tr a n h Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, nhưng xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực. Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một sô' chức năng quan trọng: đảm bảo Luận văn tốt nghiệp Học viên: Dương Khắc Nga - CHQTKD K10 -12- điều chỉnh giữa cung và cầu, hướng việc sử dụng các nhân tố sản xuất vào những nơi có hiệu quả nhất, tạo môi trường thuận lợi để sản xuất thích ứng với sự biến động của cầu và công nghệ sản xuất, tác động một cách tích cực đến phân phối thu nhập và cạnh tranh là động lực thúc đẩy đổi mới. Cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường. Khi cung một hàng hoá nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả thị trường giảm xuống, chỉ những cơ sở kinh doanh nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ được giá bán HH thì mới có thể tồn tại.
Với ý nghĩa đó cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất. Khi cung hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá trở thành khan hiếm trên thị trường, giá cả tăng lên tạo ra lợi nhuận cao hơn mức bình quân, Khi đó nhà kinh doanh sẽ đầu tư vốn xây dựng cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực sản xuất của những cở sở sẵn có. Đó là động lực quan trọng nhất làm tăng thêm lượng vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, nâng câo năng lực sản xuất trong toàn xã hội. Cạnh tranh buộc các chủ thê’ kinh doanh luôn luôn quan tâm đến cải tiến công nghệ, trang bị sản xuất và phương thức quản lý nhằm nâng cao chất lượng hàng hoá, hạ giá thành và trên cơ sở đó giảm giá bán của hàng hoá.
Trong cạnh tranh có doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ làm ăn hiệu quả, đồng thời có doanh nghiệp bị phá sản. Đối với xã hội, phá sản không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực vì nguồn lực của xã hội được chuyển sang cho nhà kinh doanh khác tiếp tục sử dụng một cách hiệu quả hơn.4 C á c c ô n g c ụ c ạ n h tr a n h Tuỳ vào đặc điểm kinh doanh mà DN có thể lựa chọn các công cụ cạnh tranh khác nhau. Sau đây là một số công cụ chủ yếu: 1.1 C anh tranh b a n s giá Giá là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh thường được sử dụng trong giai đoạn đầu của DN khi bước vào một thị trường mới hoặc là một công cụ để tăng rào cản xâm nhập ngành khi có một số đối thủ cạnh tranh muốn gia nhập ngành. Cạnh tranh bằng giá được thể hiện qua giá bán HH nhỏ hơn giá bán của đối thủ cạnh tranh.
Luận văn tốt nghiệp Học viên: Dương Khắc Nga - CHQTKD K10 -13- Mức giá có vai trò quan trọng trong cạnh tranh. Nếu như chênh lệch về giá giữa DN và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng HH của DN so với đối thủ cạnh tranh thì DN đã mang lại lợi ích cho người tiêu dùng nhiều hơn so với đối thủ cạnh tranh.