phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo thì luận án đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ. - Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm Internet băng thông rộng tại Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC). - Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Internet băng thông rộng tại Công ty VDC. 6 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LƢ̣C CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM, DỊCH VỤ 1.
Cơ sở lý luâ ̣n về ca ̣nh tranh, năng lƣc̣ ca ̣nh tranh 1. Cơ sở lý luâ ̣n về ca ̣nh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực nhƣ kinh tế, chính trị, quân sự…và có nhiều cách quan niệm dƣới các góc độ khác nhau: Trong tác phẩm “ C.Ăng-ghen toàn tập” K. Marx cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch” [17].
Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam thì “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trƣờng có lợi nhất” [20]. Theo cha đẻ của lý thuyết cạnh tranh hiện đại Michael E. Porter, “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi” [15]. Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trƣờng [14]. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo. Ba tác giả Mỹ khác là D.
Dornbusch cũng cho cạnh tranh là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết: Một cạnh tranh hoàn hảo, là ngành trong đó mọi ngƣời đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hƣởng tới giá cả thị trƣờng, phải có nhiều ngƣời bán và nhiều ngƣời mua [7]. 7 z Cùng quan điểm nhƣ trên, R.L Rubinfeld trong cuốn kinh tế học vi mô cho rằng: Một thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều ngƣời mua và ngƣời bán, để cho không có ngƣời mua hoặc ngƣời bán duy nhất nào có ảnh hƣởng có ý nghĩa đối với giá cả [27]. Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh nhƣng tựu chung lại có thể rút ra những nét chung cơ bản nhƣ sau: Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp nhằm giành lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh để thỏa mãn các mục tiêu của mình trong điều kiện môi trường kinh doanh cụ thể. Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, điều kiện sản xuất , điều kiện tiêu thụ thuận lợi hơn … 1.
Nguồn gốc, bản chất và ý nghĩa của cạnh tranh. Cạnh tranh chỉ tồn tại trong nền kinh tế thị trƣờng, khi dƣới tác động của các quy luật cung-cầu và quy luật giá trị các chủ thể kinh doanh phải cạnh tranh với nhau để cung ứng sản phẩm hàng hóa cho ngƣời tiêu dùng. Cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trƣờng. Cạnh tranh thúc đẩy lực lƣợng sản xuất xã hội phát triển, nâng cao năng suất lao động, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong điều kiện các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất là khan hiếm.
Cạnh tranh chỉ xuất hiện khi có các điều kiện sau: - Phải có ít nhất hai chủ thể cùng tham gia cạnh tranh; các chủ thể có cùng các mục đích phải giành giật; - Việc cạnh tranh phải đƣợc diễn ra trong một môi trƣờng cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia phải tuân thủ; - Cạnh tranh diễn ra trong khoảng thời gian không cố định, hoặc ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh); - Sự cạnh tranh diễn ra trong không gian xác định hoặc hẹp (một tổ chức, một ngành, một địa phƣơng), hoặc rộng (một nƣớc, giữa các nƣớc). 8 z Bên cạnh mặt tích cực cạnh tranh cũng tồn tại các mặt tiêu cực nhƣ gây phá sản, thất nghiệp, gây rối loạn khi ngƣời kinh doanh bất chấp pháp luật, quy tắc đạo đức để triệt hạ đối thủ. Chức năng của cạnh tranh Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng quan trọng. Tuy nhiên, tầm quan trọng của những chức năng có thể thay đổi theo từng thời kỳ.
Đó là: - Chức năng điều chỉnh cung cầu trên thị trƣờng: khi cung một hàng hoá dịch vụ nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những ngƣời bán để cung ứng sản phẩm làm cho giá cả thị trƣờng giảm xuống; giá giảm lợi nhuận giảm dẫn đến giảm cung. Khi cung một hàng hoá dịch vụ nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá đó trở nên khan hiếm trên thị trƣờng, giá cả sẽ tăng lên tạo ra lợi nhuận cao hơn mức bình quân, nhƣng đồng thời dẫn đến giảm cầu tại thời điểm đó. Nhƣ vậy cạnh tranh điều chỉnh “cung cầu” xung quanh điểm cân bằng. - Chức năng điều tiết việc sử dụng các nhân tố sản xuất: nhằm tối đa hoá lợi nhuận, các chủ thể kinh doanh khi tham gia thị trƣờng phải cân nhắc các quyết định sử dụng nguồn lực về vật chất và nhân lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Họ luôn phải sử dụng một cách hợp lý nhất các nhân tố sản xuất sao cho chi phí sản xuất thấp nhất hiệu quả cao nhất. Chính từ đặc điểm này mà các nguồn lực đƣợc vận động, chu chuyển hợp lý về mọi mặt để phát huy hết khả năng vốn có, đƣa lại năng suất cao. Tuy nhiên, không vì thế mà coi hoạt động của chức năng này là có hiệu quả tuyệt đối, bởi vì vẫn còn những trƣờng hợp chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. - Chức năng “xúc tác” tích cực: làm cho sản xuất thích ứng với biến động của cầu và công nghệ sản xuất.
Điểm mấu chốt của kinh tế thị trƣờng là quyền lựa chọn của ngƣời tiêu dùng. Ngƣời tiêu dùng có quyền lựa chọn những sản phẩm tốt nhất. Nếu một sản phẩm không đáp ứng đƣợc yêu cầu thị trƣờng, thì sự lựa chọn của ngƣời tiêu dùng và quy luật cạnh tranh sẽ buộc nó phải tự định hƣớng lại và hoàn thiện. Do cạnh tranh, các chủ thể kinh doanh chủ động đổi mới công nghệ, áp dụng những kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lƣợng sản phẩm, chất lƣợng dịch 9 z vụ và phƣơng thức kinh doanh để thoả mãn yêu cầu thị trƣờng, nâng cao vị thế của chủ thể cạnh tranh và sản phẩm.
- Chức năng phân phối và điều hoà thu nhập: Không một chủ thể kinh doanh nào có thể mãi mãi thu lợi nhuận cao và thống trị hệ thống phân phối trên thị trƣờng. Các đối thủ cạnh tranh ngày đêm tìm kiếm những giải pháp hữu ích để ganh đua. Trong từng thời điểm, một sản phẩm hàng hoá với những ƣu việt nhất định thoả mãn yêu cầu của ngƣời tiêu dùng có thể chiếm đƣợc ƣu thế trên thị trƣờng, song vị trí của nó luôn bị đe dọa bởi các sản phẩm cùng loại khác tiến bộ hơn. Do cạnh tranh, các nhà kinh doanh không thể lạm dụng đƣợc ƣu thế của mình.
Vì vậy, cạnh tranh sẽ tác động một cách tích cực đến việc phân phối và điều hoà thu nhập. - Chức năng động lực thúc đẩy đổi mới. Điều đó thể hiện ở việc trong các cuộc cạnh tranh kinh tế luôn khẳng định chiến thắng thuộc về kẻ mạnh - những chủ thể kinh doanh có tiềm năng, có trình độ quản lý và tri thức về kỹ thuật công nghệ, có tƣ duy kinh tế và kinh nghiệm thƣơng trƣờng sẽ tồn tại, phát triển và ngƣợc lại. Do đó, cạnh tranh trở thành động lực phát triển không chỉ thôi thúc mỗi cá nhân các chủ thể kinh doanh, mà còn là động lực phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Phân loại cạnh tranh Cạnh tranh diễn ra muôn màu, muôn vẻ trên thị trƣờng. Để phân loại cạnh tranh có thể dựa trên một số tiêu thức sau: - Căn cứ vào số lƣợng ngƣời tham gia thị trƣờng + Cạnh tranh giữa ngƣời bán và ngƣời mua: Ngƣời bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, còn ngƣời mua lại muốn mua sản phẩm, dịch vụ với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng đƣợc chấp nhận là giá thống nhất giữa những ngƣời bán và ngƣời mua sau quá trình đàm phán với nhau. + Cạnh tranh giữa những ngƣời bán với nhau: là cuộc cạnh tranh trên thị trƣờng nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ.
+ Cạnh tranh giữa những ngƣời mua với nhau: là cuộc cạnh tranh giữa những ngƣời mua nhằm mua đƣợc những hàng hóa mà họ cần. Đặc biệt trong điều kiện thị 10 z trƣờng khan hiếm số lƣợng ngƣời mua đông nên ngƣời mua sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua đƣợc những hàng hóa mà họ cần. - Căn cứ vào phạm vi kinh tế + Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tƣ có lợi hơn. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hóa thành giá trị sản xuất.
+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại hàng hóa trong cùng một ngành nhằm tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu đƣợc lợi nhuận cao hơn. - Căn cứ vào phạm vi địa lý: có cạnh tranh trong nƣớc và cạnh tranh quốc tế, trong đó cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ngay trên thị trƣờng nội địa đó là cạnh tranh giữa hàng nhập khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu.