Tổng quan nghiên cứu

Ô nhiễm nguồn nước do phẩm màu công nghiệp đang là một trong những thách thức môi trường nghiêm trọng nhất hiện nay. Theo các báo cáo thống kê ngành môi trường, trong hơn 3000 loại phẩm màu đang được lưu hành thương mại, có khoảng 37% thuộc nhóm gây độc từ trung bình đến nghiêm trọng và 2% thuộc nhóm cực độc đối với hệ sinh thái thủy sinh. Tại Việt Nam, khảo sát thực tế từ cơ quan kiểm nghiệm an toàn thực phẩm từng ghi nhận trên 50% mẫu phẩm màu thực phẩm từ hạt dưa và ớt bột chứa Rhodamin B (RhB) trái phép, trong khi lượng lớn nước thải dệt may chứa metyl da cam (MO) xả ra môi trường đe dọa trực tiếp đến chức năng gan, thận và làm tăng nguy cơ tổn thương tế bào ở người.

Xuất phát từ thực trạng các chất màu nhóm azo và xanthene có cấu trúc vòng thơm bền vững, khó phân hủy bằng phương pháp sinh học truyền thống, luận văn tập trung vào giải pháp công nghệ mới: chế tạo vật liệu compozit ba thành phần chitosan - kẽm oxit - hạt nano sắt từ (ký hiệu là CMZ) nhằm loại bỏ MO và RhB bằng cơ chế tích hợp hấp phụ và quang xúc tác.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm toàn diện tại Khoa Hóa học thuộc Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên trong năm 2023, ứng dụng nguồn bức xạ kích hoạt từ đèn LED công suất 9W và kiểm soát nồng độ bằng phương pháp trắc quang phổ hấp thụ phân tử tử ngoại - khả kiến (UV-Vis).

Ý nghĩa thực tiễn của công trình được định lượng qua các chỉ số kỹ thuật nổi bật: vật liệu CMZ đạt diện tích bề mặt riêng 59,18 m²/g (cao gấp 3 lần so với ZnO tinh khiết), từ độ bão hòa đạt 15,04 emu/g đảm bảo thu hồi triệt để bằng nam châm. Kết quả thử nghiệm ghi nhận hiệu suất phân hủy đạt mức ấn tượng 99,49% đối với metyl da cam và 90,73% đối với Rhodamin B, cung cấp giải pháp xử lý nước thải dệt nhuộm hiệu quả cao và thân thiện với môi trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết quang xúc tác bán dẫn dị thể, lý thuyết hấp phụ bề mặt mao quản và mô hình động học biểu kiến Langmuir - Hinshelwood.

Về bản chất quang hóa, kẽm oxit (ZnO) là vật liệu bán dẫn sở hữu độ rộng vùng cấm khoảng 3,2 eV. Khi tiếp nhận photon ánh sáng có năng lượng thích hợp lớn hơn hoặc bằng năng lượng vùng cấm, các electron (e-) bị kích thích nhảy từ vùng hóa trị lên vùng dẫn, để lại các lỗ trống quang hóa (h+). Các cặp điện tích tự do này di chuyển lên bề mặt hạt để tương tác với oxy hòa tan và nước, sinh ra chuỗi các gốc tự do có thế oxy hóa cực mạnh như hydroxyl (•OH) và superoxit (•O2-), đóng vai trò bẻ gãy mạch liên kết azo (-N=N-) của MO cũng như vòng xanthene của RhB.

Về bản chất tương tác bề mặt, quá trình hấp phụ tuân theo thuyết tương tác tĩnh điện phụ thuộc vào điểm đẳng điện (pHpzc = 6,5) của vật liệu compozit. Nghiên cứu vận dụng đồng thời 4 khái niệm nền tảng:

  • Polyme sinh học biến tính: Chitosan tự nhiên mang các nhóm chức hoạt động amin (-NH2) và hydroxyl (-OH) đóng vai trò chất phân tán và tâm hấp phụ.
  • Tính siêu thuận từ: Hạt nano Fe3O4 đơn đô-men có kích thước dưới 20 nm với lực kháng từ bằng 0, không bị lưu từ tính sau khi ngắt từ trường.
  • Cấu trúc mao quản trung bình (mesoporous): Phân loại theo IUPAC với đường kính lỗ xốp trong giới hạn từ 2 đến 50 nm.
  • Động học dị thể: Mô hình Langmuir - Hinshelwood mô tả phản ứng phân hủy quang hóa diễn ra giữa các phân tử chất màu đã được hấp phụ trên các tâm hoạt tính bề mặt.

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình tổng hợp vật liệu: Vật liệu compozit CMZ được chế tạo bằng phương pháp đồng kết tủa kết hợp rung siêu âm và xử lý thủy nhiệt. Cụ thể, muối Fe2+ và Fe3+ được cân chính xác theo tỷ lệ mol 1:2, hòa tan trong môi trường axit HCl loãng và gia nhiệt ở 80 độ C trong 45 phút dưới dòng khí bảo vệ N2. Dung dịch được nâng lên pH = 13 bằng NaOH để tạo pha hạt sắt từ oxit. Tiếp đó, hệ phản ứng được bổ sung dung dịch kẽm axetat Zn(CH3COO)2 nồng độ 1M cùng Na2CO3 2M và 25 mL dung dịch chitosan nồng độ 2% trong axit axetic, khuấy đều ở 80 độ C. Hỗn hợp tiếp tục được rung siêu âm 10 phút trước khi đưa vào bình phản ứng thủy nhiệt ở nhiệt độ 220 độ C trong 10 phút. Hạt compozit sau phản ứng được thu hồi bằng nam châm, rửa sạch bằng nước cất đến pH trung tính và sấy khô ở 80 độ C trong 4 giờ.

Quy mô và thiết kế thực nghiệm: Mỗi mẻ thí nghiệm quang hóa sử dụng thể tích cố định 40 mL dung dịch chất màu. Dải nồng độ khảo sát của MO từ 5,32 đến 39,57 mg/L và RhB từ 5,03 đến 42,43 mg/L. Liều lượng chất xúc tác khảo sát từ 0,05 g đến 0,20 g. Trước khi chiếu xạ, dung dịch được khuấy đồng thể trong bóng tối suốt 30 phút để thiết lập cân bằng hấp phụ - giải hấp phụ.

Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn:

  • Nhiễu xạ tia X (XRD) trên máy Bruker D2-Phaser nhằm xác định chính xác pha tinh thể wurtzite của ZnO và pha spinel của Fe3O4.
  • Kính hiển vi điện tử quét (SEM) và hiển vi điện tử truyền qua (TEM) nhằm ghi nhận trực tiếp kích thước hạt nano và hình thái xốp bề mặt.
  • Phương pháp hấp phụ đẳng nhiệt nitơ (BET) ở 77K nhằm xác định chuẩn xác diện tích bề mặt riêng và phân bố thể tích lỗ xốp.
  • Từ kế mẫu rung (VSM) để định lượng từ độ bão hòa, kiểm tra khả năng tách pha bằng từ trường.
  • Quang phổ hấp thụ phân tử tử ngoại - khả kiến (UV-Vis) là kỹ thuật phân tích trắc quang có độ nhạy cao, chi phí hợp lý, đạt độ tuyến tính R² trên 0,999 với giới hạn phát hiện (LOD) xuống tới 0,0134 mg/L.

Toàn bộ quá trình thu thập số liệu và xử lý động học thực nghiệm được hoàn tất trong mốc thời gian năm 2023.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, vật liệu compozit CMZ được tổng hợp thành công với các đặc trưng hóa lý vượt trội so với các đơn chất thành phần. Kết quả nhiễu xạ tia X khẳng định sự hiện diện đồng thời của mạng tinh thể lục giác wurtzite của ZnO tại các góc 2θ = 31,68°; 34,37°; 36,08° và các đỉnh đặc trưng của Fe3O4 tại 30,32° và 43,21°. Phân tích BET cho thấy diện tích bề mặt riêng của CMZ đạt 59,18 m²/g, tăng gần 300% so với vật liệu ZnO đơn thuần (19,73 m²/g). Đường kính mao quản trung bình đạt 9,62 nm với thể tích lỗ xốp 0,1422 cm³/g. Ảnh TEM ghi nhận các hạt nano có kích thước đồng đều trong khoảng 10 đến 15 nm, phân tán bám dính chặt chẽ trên nền chitosan. Kết quả từ kế mẫu rung xác nhận từ độ bão hòa đạt 15,04 emu/g, cho phép thu gom toàn bộ hạt xúc tác bằng nam châm chỉ trong vòng 60 giây.

Thứ hai, hiệu suất phân hủy quang xúc tác phụ thuộc sâu sắc vào pH môi trường và loại chất màu. Đối với metyl da cam (MO), hiệu suất loại bỏ đạt đỉnh tại môi trường axit mạnh pH = 3: sau 30 phút hấp phụ tối đã đạt 69,06% đến 74,70%, và sau 150 phút chiếu sáng đèn LED 9W tổng hiệu suất đạt tới 99,49% ở nồng độ ban đầu 5,32 mg/L. Ngược lại, đối với Rhodamin B (RhB), môi trường bazơ pH = 8 cho hiệu quả cao nhất với khả năng hấp phụ tối đạt 24,15%, hiệu suất quang hóa đạt 48,59% và tổng hiệu suất đạt cực đại 90,73% ở nồng độ 5,03 mg/L. Khi tăng nồng độ chất màu lên mức cao (khoảng 40 mg/L), hiệu suất phân hủy vẫn duy trì khả quan ở mức 78,42% với MO và 62,39% với RhB.

Thứ ba, nghiên cứu xác lập được liều lượng xúc tác tối ưu là 0,10 g cho 40 mL dung dịch. Khi tăng khối lượng từ 0,05 g lên 0,10 g, hiệu suất tăng vọt do gia tăng số lượng tâm hoạt tính quang hóa. Tuy nhiên, việc tăng tiếp lên 0,20 g khiến tốc độ gia tăng hiệu suất bị chững lại rõ rệt.

Thứ tư, quá trình phân hủy tuân theo mô hình động học biểu kiến bậc một Langmuir - Hinshelwood với hệ số tương quan R² cao từ 0,95 đến 0,99. Hằng số tốc độ phản ứng (kad) của MO nằm trong khoảng từ 0,007 đến 0,031 phút⁻¹, cao hơn gấp 2 đến 3 lần so với hằng số tốc độ của RhB (từ 0,005 đến 0,013 phút⁻¹).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt lớn về hiệu suất giữa MO và RhB tại các dải pH khác nhau được làm sáng tỏ thông qua cơ chế tương tác tĩnh điện dựa trên điểm đẳng điện pHpzc = 6,5 của vật liệu CMZ. Trong môi trường nước, MO phân ly thành anion (MO-), còn RhB tồn tại chủ yếu ở dạng cation (RhB+). Khi pH = 3 (thấp hơn pHpzc), bề mặt vật liệu tích điện dương do các nhóm amin của chitosan nhận proton tạo thành -NH3+, từ đó tạo lực hút tĩnh điện cực mạnh với anion MO-, đẩy mạnh quá trình hấp phụ bề mặt lên tới 74,70%. Khi pH = 8 (lớn hơn pHpzc), bề mặt vật liệu tích điện âm, tạo lực hút tĩnh điện thuận lợi đối với các cation RhB+, giúp tăng cường hiệu suất quang xúc tác.

So sánh với các công bố quốc tế gần đây, hằng số tốc độ phân hủy MO của CMZ (0,031 phút⁻¹) vượt trội gấp hơn 15 lần so với vật liệu Fe3O4/ZnO của Joun Xia (0,002 phút⁻¹) và vật liệu của Dlugosz (0,001 phút⁻¹). Tương tự, tốc độ quang hóa đối với RhB của CMZ (0,013 phút⁻¹) cũng cao gấp hơn 6 lần so với hạt nano MoS2 của Liu (0,002 phút⁻¹). Sự vượt trội này bắt nguồn từ cấu trúc mao quản trung bình với diện tích bề mặt lớn và vai trò dẫn truyền điện tích hiệu quả của nền chitosan kết hợp Fe3O4, giúp kìm hãm sự tái kết hợp giữa electron và lỗ trống quang hóa.

Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu có thể được trực quan hóa rất sinh động trên các đồ thị: biểu đồ cột kép so sánh tỷ trọng giữa giai đoạn hấp phụ bóng tối và giai đoạn chiếu sáng quang hóa; phổ hấp thụ quét UV-Vis thể hiện rõ sự suy giảm đỉnh hấp thụ quang tại bước sóng 506 nm (của MO) và 554 nm (của RhB) theo thời gian; và đồ thị tuyến tính hóa hàm số ln(Ct/C0) theo thời gian chiếu xạ minh chứng mức độ tương thích hoàn hảo của mô hình động học bậc một.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển hóa các kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thành các giải pháp công nghệ có khả năng ứng dụng thực tế, luận văn đưa ra 4 khuyến nghị then chốt:

Thứ nhất, mở rộng quy mô tổng hợp vật liệu compozit CMZ. Nhóm nghiên cứu cần phối hợp với các trung tâm nghiên cứu vật liệu tiên tiến tiến hành chuẩn hóa quy trình công nghệ để nâng quy mô mẻ tổng hợp từ 40 mL lên hệ pilot từ 50 đến 100 lít trong thời gian 6 đến 12 tháng tới. Cần kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ thủy nhiệt 220 độ C và công suất rung siêu âm nhằm duy trì độ ổn định kích thước hạt trong dải 10 đến 15 nm.

Thứ hai, thiết kế module phản ứng quang xúc tác dòng chảy liên tục. Các kỹ sư môi trường tại các đơn vị công nghệ xử lý nước cần chế tạo buồng phản ứng liên tục tích hợp hệ thống thu hồi từ tính tự động trong thời hạn 9 tháng. Mục tiêu kỹ thuật cần đạt là thu hồi trên 95% lượng xúc tác sau mỗi chu kỳ và duy trì hoạt tính xử lý qua tối thiểu 5 chu kỳ tái sử dụng liên tiếp.

Thứ ba, triển khai thử nghiệm trên nước thải dệt nhuộm thực địa. Các cơ quan quản lý môi trường và doanh nghiệp dệt may cần phối hợp thực hiện thử nghiệm trên các nguồn nước thải thực tế có chỉ số COD từ 500 đến 1500 mg/L và chứa hỗn hợp nhiều nhóm chất màu trong vòng 12 tháng. Đích đến là đưa nồng độ các chất ô nhiễm về ngưỡng an toàn theo Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 40:2011/BTNMT cột A về nước thải công nghiệp.

Thứ tư, nghiên cứu biến tính pha tạp mở rộng dải phổ quang hóa. Các nhà khoa học chuyên ngành hóa học vật liệu cần tiếp tục thử nghiệm pha tạp các ion kim loại chuyển tiếp hoặc vật liệu nano carbon trong vòng 18 tháng tới nhằm thu hẹp độ rộng vùng cấm 3,2 eV của ZnO, hướng tới việc tận dụng trực tiếp bức xạ ánh sáng mặt trời tự nhiên và cắt giảm trên 40% chi phí điện năng vận hành hệ thống đèn LED.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu và hữu ích đối với 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên thuộc các chuyên ngành Hóa phân tích, Hóa môi trường và Khoa học vật liệu. Công trình mang đến hệ thống phương pháp luận chặt chẽ về quy trình tổng hợp sol-gel thủy nhiệt kết hợp polyme sinh học, kỹ thuật phân tích cấu trúc XRD, diện tích BET, từ tính VSM và mô hình hóa động học phản ứng.

Thứ hai, kỹ sư công nghệ và cán bộ quản lý kỹ thuật tại các trạm xử lý nước thải công nghiệp dệt nhuộm, may mặc, thuộc da và sản xuất giấy. Luận văn cung cấp các thông số công nghệ giá trị như khoảng pH tối ưu (pH = 3 cho phẩm màu azo, pH = 8 cho phẩm màu bazơ), liều lượng xúc tác định mức 0,10 g cho 40 mL nước thải, cùng phương án tách pha nhanh bằng nam châm giúp tiết kiệm diện tích bể lắng.

Thứ ba, cán bộ kiểm nghiệm và chuyên viên quan trắc tại các trung tâm đo lường, kiểm chuẩn chất lượng môi trường và an toàn thực phẩm. Tài liệu cung cấp quy trình thẩm định phương pháp quang phổ UV-Vis chuẩn xác với giới hạn phát hiện LOD ấn tượng từ 0,0134 đến 0,1452 mg/L, phục vụ công tác phát hiện vi lượng phẩm màu độc hại.

Thứ tư, các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực hóa chất xanh và công nghệ sinh thái. Nghiên cứu mở ra hướng thương mại hóa dòng sản phẩm vật liệu xử lý nước thế hệ mới tận dụng nguồn phụ phẩm vỏ tôm cua tự nhiên (chitosan), giúp hạ giá thành sản xuất và giải quyết triệt để vấn đề phát sinh bùn thải độc hại.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vật liệu compozit CMZ có ưu điểm gì vượt trội so với xúc tác ZnO đơn thuần? Vật liệu CMZ khắc phục triệt để hai nhược điểm lớn của ZnO là độ rộng vùng cấm lớn và khó thu hồi sau phản ứng. Nhờ kết hợp chitosan, diện tích bề mặt riêng tăng gần 300% từ 19,73 m²/g lên 59,18 m²/g. Đồng thời, sự có mặt của hạt nano Fe3O4 mang lại từ độ bão hòa 15,04 emu/g, giúp thu gom xúc tác nhanh chóng bằng nam châm thay vì phải lọc ly tâm tốn kém.

  2. Tại sao metyl da cam lại đạt hiệu suất xử lý tối ưu tại môi trường axit pH = 3? Tại pH = 3, giá trị này thấp hơn điểm đẳng điện của vật liệu (pHpzc = 6,5), khiến bề mặt hạt CMZ tích điện dương do nhóm amin của chitosan bị proton hóa thành dạng -NH3+. Lực hút tĩnh điện mạnh mẽ hút chặt các ion âm MO- về bề mặt, đẩy hiệu suất hấp phụ tối lên 74,70%, tạo mật độ phân tử cao cho quá trình quang hóa phân hủy triệt để đạt 99,49%.

  3. Quá trình thu hồi và tái sử dụng vật liệu CMZ bằng từ trường diễn ra như thế nào? Nhờ tính chất siêu thuận từ của hạt nano Fe3O4 với từ độ 15,04 emu/g và lực kháng từ bằng 0, các hạt CMZ phân tán đều khi khuấy nhưng lập tức tụ lại thành khối tại vị trí đặt nam châm ngoài trong vòng dưới 60 giây. Sau khi gạn phần nước trong, hạt xúc tác chỉ cần rửa lại bằng nước cất đến pH trung tính là có thể tái sử dụng ngay.

  4. Độ nhạy và độ tin cậy của phép đo quang phổ UV-Vis trong đề tài đạt mức nào? Phương pháp trắc quang UV-Vis được thẩm định với độ tin cậy rất cao, đường chuẩn đạt hệ số tương quan tuyến tính R² trên 0,999. Đối với metyl da cam, giới hạn phát hiện (LOD) đạt 0,0686 mg/L và giới hạn định lượng (LOQ) đạt 0,2288 mg/L. Đối với Rhodamin B, giá trị LOD đạt 0,0134 mg/L và LOQ đạt 0,0447 mg/L, hoàn toàn đáp ứng chuẩn phân tích vết.

  5. Vì sao tăng khối lượng xúc tác vượt quá 0,10 g lại làm giảm tốc độ gia tăng hiệu suất quang hóa? Khi tăng lượng CMZ từ 0,05 g lên 0,10 g trong 40 mL dung dịch, số lượng tâm hoạt tính tăng giúp hiệu suất tăng mạnh. Tuy nhiên, nếu tiếp tục tăng lên 0,20 g, lượng hạt rắn huyền phù màu nâu làm tăng độ đục của môi trường, gây hiện tượng tán xạ và cản trở chùm photon từ đèn LED 9W xuyên sâu, làm kìm hãm tốc độ sinh gốc tự do.

Kết luận

  • Chế tạo thành công vật liệu nano compozit đa chức năng chitosan - ZnO - Fe3O4 (CMZ) có kích thước hạt từ 10 đến 15 nm, cấu trúc lục giác wurtzite và diện tích bề mặt mao quản trung bình đạt 59,18 m²/g.
  • Làm chủ cơ chế tích hợp hấp phụ và quang hóa với hiệu suất loại bỏ vượt trội đạt 99,49% đối với metyl da cam (tại pH = 3) và 90,73% đối với Rhodamin B (tại pH = 8) dưới ánh sáng đèn LED công suất thấp 9W.
  • Xác lập động học phản ứng phân hủy tuân theo mô hình Langmuir - Hinshelwood với hằng số tốc độ kad đạt tới 0,031 phút⁻¹, cao gấp nhiều lần so với các vật liệu quang xúc tác truyền thống.
  • Giải quyết bài toán thu hồi xúc tác sau phản ứng nhờ từ độ bão hòa 15,04 emu/g, cho phép tách pha hoàn toàn bằng từ trường ngoài trong vòng 60 giây và chống ô nhiễm thứ cấp.
  • Thẩm định thành công quy trình trắc quang UV-Vis xác định chính xác vi lượng phẩm màu với giới hạn phát hiện LOD đạt từ 0,0134 đến 0,1452 mg/L.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là đã đề xuất một công nghệ chế tạo vật liệu lai xanh, tận dụng nguồn polyme tự nhiên chitosan để nâng cao hiệu năng xử lý nước thải dệt nhuộm và bảo vệ môi trường bền vững. Trong giai đoạn 2024 - 2025, định hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào thử nghiệm hệ thống phản ứng dòng chảy liên tục trên các nguồn nước thải công nghiệp thực tế. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm đến công nghệ vật liệu xử lý môi trường vui lòng liên hệ Bộ môn Hóa phân tích, Khoa Hóa học - Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên để tiếp cận toàn văn công trình và thảo luận cơ hội hợp tác chuyển giao công nghệ.