Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nguồn gốc, xuất sứ Cao su (Hevea brasiliensis) vốn là cây mọc hoang dại trong lưu vực sông Amazon - Brazil và các vùng kế cận, chính nhà thám hiểm Christopher Columbus và các thuỷ thủ khi đi khám phá các vùng đất châu Mỹ vào các năm 1493 - 1496 đã phát hiện ra chất cao su từ những quả bóng làm từ nhựa cây của thổ dân đảo Haiti. Đến đầu thế kỷ 19, Brazil là nước duy nhất xuất khẩu cao su cho công nghiệp thế giới. Thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm vi Brasil diễn ra vào năm 1873.
Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm tại vườn thực vật Hoàng gia Kew. Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để gieo trồng, nhưng chúng đã bị chết. Thử nghiệm thứ hai sau đó đã được thực hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875. Khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm, và vào năm 1876 những cây giống đã được gửi tới Ceylon và gửi tới các vườn thực vật tại Singapore.
Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở các nơi bản địa của nó, cây cao su đã được nhân rộng khắp tại các thuộc địa của Anh. Cây cao su có mặt tại các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia năm 1883. Vào năm 1898, một đồn điền đã được thành lập ở Malaysia, và ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi. Hiện nay có 24 quốc gia trồng cao su tại 3 châu lục: Á, Phi và Mỹ La Tinh.
Tổng diện tích toàn thế giới khoảng 9,4 triệu ha, trong đó Châu Á chiếm 93%, Châu Phi 5%, Mỹ La Tinh quê hương của cây cao su chưa đến 2% diện tích cao su thế giới. Việc mở rộng diện tích cao su vùng Nam Mỹ gặp khó khăn do bị hạn chế bởi bệnh cháy lá Nam Mỹ (SALB). Indonesia có diện tích cao su lớn nhất thế giới, tiếp theo là Thái Lan, Malaisia, Trung Quốc, Ấn Độ download by : skknchat@gmail.com 3 và Việt Nam. Hầu hết diện tích cao su của các nước đều nằm trong vùng truyền thống trồng cao su.
Hiện nay, nhiều nước đang mở rộng diện tích cao su ra ngoài vùng truyền thống như một công cụ để bảo vệ môi trường và nâng cao thu nhập của người dân. Đặc điểm thực vật học Cây cao su khi ở tình trạng hoang dại tại vùng nguyên quán thì mật độ cây thưa thớt và với chu kỳ sống trên 100 năm, nên có dạng cây rừng lớn. + Thân cây cao su thuộc loại thân gỗ, to, cao. Ở những cây lâu năm thân có thể cao tới 20 - 30m và đường kính thân tới 1m.
Thân là phần kinh tế chính của cây cao su cho mủ và gỗ. + Vỏ gồm 3 lớp chính: Lớp da bần: là lớp vỏ ngoài cùng tập hợp các tế bào chết, để bảo vệ lớp trong. Lớp vỏ cứng: là lớp vỏ giữa, da cát, có chứa một số mạch mủ. Lớp vỏ mềm: Là lớp vỏ trong cùng, da lụa, chứa nhiều mạch mủ, nơi cung cấp latex.
Mạch mủ xếp nghiêng từ phải qua trái tính từ dưới lên làm thành một góc 50 so với đường thẳng đứng. + Lá cao su mọc cách, có 3 lá chét, cuống dài có hình bầu dục, đuôi nhọn, mặt nhẵn, gân song song, có chức năng quang hợp góp phần sinh trưởng tổng hợp mủ cao su. + Hoa cao su thuộc loại đơn tính, đồng chu, thụ phấn chéo (hoa đực, hoa cái mọc riêng rẽ trên cùng một cành). + Quả cao su thuộc loại quả nang, có lớp vỏ dày cứng trong có chứa các hạt, khi chín vỏ tự nứt hạt có thể tách ra ngoài.
+ Hạt cao su hình trứng hơi tròn, khi chín có màu nâu, ở ngoài là vỏ sừng cứng, có vân, bên trong có nhân gồm phôi nhũ và cây mầm. + Bộ rễ cao su bao gồm rễ trụ và rễ bàng: download by : skknchat@gmail.com 4 Rễ trụ dài từ 3 - 5m. Rễ bàng ăn rộng từ 4 - 6m. Bộ rễ chiếm 10 - 15% tổng sinh khối của cây; nhìn chung bộ rễ cao su khoẻ, tái sinh sản lớn, tuy không phát triển sâu rộng như một số cây khác.
Khi được nhân trồng trên sản xuất, do việc tính toán hiệu quả của cây trên việc sử dụng đất và vốn đầu tư nên cây cao su được trồng trong điều kiện khác hẳn với tình trạng hoang dại, cụ thể: - Mật độ trồng dày (18 - 25m2/cây và 500 - 600 cây/ha). - Chu kỳ sống của cây cao su được giới hạn là từ 30 - 35 năm, chia làm 2 thời kỳ là thời kỳ kiến thiết cơ bản (5 - 7 năm tuỳ theo điều kiện sinh thái và chăm sóc) và thời kỳ kinh doanh, đây là thời gian khai thác mủ cây (từ 25 - 30 năm). Do phải thích nghi với điều kiện sống nên kích thước và hình dáng cây cao su trong sản xuất trở nên nhỏ hơn so với cao su hoang dại, tối đa chỉ cao 25 - 30m và đạt vanh tối đa là 1,0m khi vào cuối chu kỳ khai thác. Khác với cây cao su hoang dại ở dạng cây thực sinh có thân cây hình nón với vanh thân giảm dần từ thấp lên cao, các cây cao su nhân trồng có dạng cây ghép với thân cây hình trụ có một mối ghép (chân voi) phình to ra ở ngay phía trên mặt đất và kích thước thân cây từ thấp đến cao thay đổi không đáng kể (Tổng công ty cao su Việt Nam, 2004) [18].
Điều kiện sinh thái Do nguồn gốc ở vùng nhiệt đới cho nên cho nên khi nhân trồng nên chọn các vùng trồng có điều kiện phù hợp: a) Khí hậu Cây cao su cần nhiệt độ cao và ít biến động với nhiệt độ thích hợp nhất là từ 25 - 300C, trên 400C cây khô héo, dưới 100C nếu kéo dài cây sẽ bị nguy hại như héo và rụng lá, chồi ngọn ngưng sinh trưởng,. Ở nhiệt độ 250C năng download by : skknchat@gmail.com 5 suất mủ của của cây đạt mức cao nhất, nhiệt độ mát dịu vào sáng sớm cũng giúp cây cao su cho năng suất mủ cao nhất. Các vùng trồng cao su lớn hiện nay phần lớn là ở vùng khí hậu nhiệt đới. b) Lượng mưa Cây cao su có thể trồng ở nhũng vùng đất có lượng mưa từ 1500 - 2000mm/năm, nếu lượng mưa thấp hơn thì cần phải phân bố đều trong năm, đất phải giữ nước tốt.
c) Gió Gió nhẹ 1 - 2m/s có lợi cho cây cao su vì giúp cho vườn cây thông thoáng, khi gió cấp 5 - 6 sẽ làm lá cao su xoăn lại, rách lá, chậm tăng trưởng, trồng cao su ở những nơi có gió mạnh thường xuyên, gió to, gió lốc sẽ gây hư hại cho cây, gãy cành, trốc gốc nhất là ở những vùng đất nông rễ cây cao su không phát triển sâu và rộng được. d) Giờ chiếu sáng Ánh sáng đầy đủ giúp cây ít bệnh, tăng trưởng nhanh và sản lượng cao, giờ chiếu sáng tốt cho cây cao su bình quân là 1800 - 2800 giờ/năm, tốt nhất là vào khoảng 1600 - 1700 giờ/năm. e) Đất đai Cây cao su có thể phát triển trên các loại đất khác nhau ở vùng khí hậu nhiệt đới ẩm ướt nhưng thành phần và hiệu quả kinh tế của cây là một vấn đề cần lưu ý khi nhân trồng cao su trên quy mô lớn, do vậy việc chọn lựa các vùng đất thích hợp cho cây cao su cần được đặt ra. + Cao trình: Cây cao su thích hợp với vùng đất có cao trình tương đối thấp (dưói 600m).
Càng lên cao càng bất lợi do độ cao càng tăng thì nhiệt độ càng giảm và gió mạnh. Tuy nhiên hiện nay với những tiến bộ về giống có thể đưa cao trình trồng cao su lên cao hơn giới hạn cũ. download by : skknchat@gmail.com 6 + Độ dốc: Độ dốc đất có liên quan đến độ phì đất, đất càng dốc xói mòn càng mạnh khiến các dinh dưỡng trong đất nhất là trong lớp đất mặt bị mất đi nhanh chóng. Khi trồng cao su trên các vùng đất dốc cần phải thiết lập các hệ thống bảo vệ đất chóng xói mòn như làm đường đồng mức, băng chắn nước.
vừa bảo vệ được đất không bị xói mòn vừa dễ cạo mủ, thu mủ và vận chuyển về nơi chế biến. + Lý và hoá tính đất: pH giới hạn để trồng cao su là từ 3,5 - 7,0; tốt nhất là từ 4,5 - 5,5. Độ dày tầng đất cũng là một yếu tố quan trọng để giúp cho sự tăng trưởng của rễ cao su, hiện nay đất có tầng canh tác từ 0,8m trở lên là có thể xem là đạt yêu cầu để trồng được cao su. Đối với cây cao su, các chất dinh dưỡng trong đất không phải là yếu tố giới hạn nghiêm trọng, tuy nhiên trồng cao su trên các loại đất nghèo dinh dưỡng cần đầu tư nhiều phân bón sẽ làm tăng chi phí đầu tư khiến hiệu quả kinh tế giảm đi.
Vai trò của cây cao su đối với phát triển đất nước Cây cao su chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp nước ta, cây cao su vừa cho mủ, lấy gỗ, vừa góp phần bảo vệ đất, chống xói mòn. Sản phẩm cao su đã và đang được ứng dụng nhiều trong cuộc sống như: cao su thiên nhiên gắn với ngành sản xuất lốp xe mà ngành này gắn với phát triển kinh tế của nhiều nước đang phát triển, cao su tổng hợp, đồ gỗ… - Về giá trị kinh tế: Cây cao su là một trong những cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, kim ngạch xuất khẩu gia tăng nhanh chóng. Năm 2007 kim ngạch xuất khẩu đạt 1,4 tỉ USD và trở thành nông sản xuất khẩu lớn thứ 2 sau gạo và vượt qua cà phê. Ngoài sản phẩm chính là mủ, mỗi hecta cao su hàng năm có thể cung cấp khoảng 450kg hạt, có thể ép được 56 kg dầu phục vụ cho công nghệ chế biến sơn, xà phòng, thức ăn chăn nuôi và làm phân bón rất tốt.
Cao su có thể tổng hợp được công nghệ hóa dầu, diễn biến giá dầu thô download by : skknchat@gmail.com 7 và giá cao su thiên nhiên tỷ lệ thuận với nhau. Sau chu kỳ kinh doanh mủ, khi chặt hạ để trồng lại, cây cao su còn cho một lượng gỗ tương đối lớn (bình quân từ 130 - 258m2/ha) phục vụ cho chế biến đồ gỗ gia dụng và xuất khẩu, gỗ cao su được đánh giá cao vì có thớ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn được đánh giá như là loại gỗ “ thân thiện với môi trường” và giá trị tương đương gỗ nhóm III.