mở đầu của một chu trình quản lý tài chính, đây là căn cứ quan trọng cho việc thực hiện và kiểm soát thu, chi đảm bảo cân đối phù hợp giữa nguồn kinh phí, đồng thời tuân thủ việc chấp hành NSNN. Các đơn vị sẽ tiến hành lập dự toán theo biểu mẫu quy định hiện hành kèm theo thuyết minh cơ sở tính toán chi tiết từng nội dung và nhiệm vụ chi của 14 đơn vị theo từng nguồn kinh phí. Có 2 phương pháp lập dự toán thường được sử dụng là phương pháp lập dự toán dựa trên cơ sở quá khứ và phương pháp lập dự toán không dựa trên cơ sở quá khứ cụ thể như sau: + Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháp xác định các chỉ tiêu trong dự toán dựa vào kết quả hoạt động thực tế của kỳ liền trước và điều chỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát dự kiến. Có thể khái quát mô hình phương pháp lập dự toán này như Hình 1.1 dưới đây: Quản lý bộ phận Quản lý bộ phận Các yếu tố điều chỉnh Dự toán năm trước Dự toán năm nay tăng trong năm nay Quản lý cấp trên Hình 1.
Mô hình phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ [9, tr23] + Phương pháp lập dự toán dựa vào mục tiêu, nhiệm vụ được giao là phương pháp xác định các chỉ tiêu trong dự toán dựa vào nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kế hoạch, phù hợp với điều kiện cụ thể hiện có của đơn vị chứ không dựa trên kết quả hoạt động thực tế của năm trước. Có thể khái quát mô hình phương pháp lập dự toán này như hình 1.2 dưới đây: 15 Quản lý bộ phận Các nguồn lực sử dụng Tổng lợi ích Đánh giá các phương cho hoạt động gia tăng án thay thế Dự toán năm nay Cơ quan quản lý cấp trên Hình 1. Mô hình phương pháp lập dự toán dựa vào mục tiêu, nhiệm vụ giao [9, tr23] Trong điều kiện cụ thể ở các đơn vị sự nghiệp của Việt Nam hiện nay, phương pháp lập dự toán dựa trên cơ sở quá khứ vẫn là phương pháp được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu đổi mới của cơ chế tự chủ tài chính, các đơn vị có thể nghiên cứu và triển khai áp dụng thử nghiệm phương pháp lập dự toán không dựa trên cơ sở quá khứ cho một số hoạt động tự chủ của đơn vị.
Tổ chức chấp hành dự toán thu, chi ngân sách Trên cơ sở dự toán ngân sách được cấp thẩm quyền giao, các đơn vị sự nghiệp tổ chức triển khai sử dụng kinh phí ngân sách theo đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả thông qua quy chế chi tiêu nội bộ. Các nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp y tế hiện nay gồm: - Nguồn kinh phí do NSNN cấp, gồm: Nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên để thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao; kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức, kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có 16 thẩm quyền được giao… - Nguồn thu sự nghiệp, gồm: phí, lệ phí thuộc NSNN theo quy định của pháp luật, theo chế độ được phép để lại đơn vị; thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị. Ví dụ, nguồn thu của ngành y tế gồm: Viện phí, dịch vụ khám chữa bênh, lệ phí kiểm dịch, phí pháp y, phí kiểm nghiệm, thu khám chữa bệnh dịch vụ,… - Nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật - Nguồn khác, gồm: nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng và vốn huy động của các bộ, viên chức trong đơn vị; nguồn vốn tham gia liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. Song song với việc khai thác các nguồn thu, các đơn vị sự nghiệp phải thực hiện theo dõi việc sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích để hoàn thành nhiệm vụ được giao trên cơ sở minh bạch, tiết kiệm, và hiệu quả.
Các khoản chi trong các đơn vị sự nghiệp bao gồm: Chi hoạt động thường xuyên của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ được cấp thẩm quyền giao, gồm: + Chi thanh toán cá nhân: gồm chi về tiền lương; phụ cấp lương; tiền thưởng; phúc lợi tập thể; trợ cấp khó khăn; tiền tàu xe nghỉ phép năm; chi các khoản đóng góp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn. + Chi nghiệp vụ chuyên môn: gồm chi tiền điện, nước, nhiên liệu; văn phòng phẩm; cước phí điện thoại; bưu phí; công tác phí; hội nghị; đoàn ra; đoàn vào; chi mua sắm sữa chữa thường xuyên TSCĐ phục vụ nghiệp vụ chuyên môn; và các khoản chi cho nghiệp vụ chuyên môn của đơn vi. + Chi khác: gồm những mục chi về tiếp khách, kỷ niệm các ngày lễ lớn, hỗ trợ, chi lập các quỹ và chi khác. + Chi mua sắm, sửa chữa TSCĐ: nhóm chi này đáp ứng nhu cầu cho 17 việc mua sắm, sữa chữa lớn TSCĐ.
Các khoản chi này phát sinh không thường xuyên, mức độ chi phụ thuộc vào nhu cầu thực tế và quyết định phê duyệt của cấp có thẩm quyền. + Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí: gồm tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lượng; các khoản trích nộp theo quy định hiện hành; các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn, sữa chữa tài sản và các khoản chi khác theo chế độ quy định phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí Chi không thường xuyên, gồm: Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức; thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia; thực hiện nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng; chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài; chi thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; mua sắm thiết bị, sữa chữa lớn tài sản cố định, các khoản chi khác (nếu có). Trong cơ chế tự chủ tài chính, các khoản chi của đơn vị có chấp hành đúng dự toán hay không chính là quy chế chi tiêu nội bộ. Quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thống nhất trong đơn vị do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Quyết toán thu, chi ngân sách Quyết toán thu, chi là công việc cuối cùng của chu trình quản lý tài chính. Đây là quá trình kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình chấp hành dự toán trong kỳ và là cơ sở để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán từ đó rút ra những kinh nghiệm cho các kỳ kế tiếp. Để tiến hành quyết toán thu chi, các đơn vị phải hoàn tất hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách. Toàn bộ những thông tin trình bày trên hệ thống báo cáo được xây dựng trên cơ sở thông tin do kế toán cung cấp và nội dung của hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán là thể hiện toàn diện về tình hình thu chi và cân 18 đối ngân sách, tình hình tiếp nhận, huy động, sử dụng các nguồn tài chính và sự vận động của các tài sản sau một kỳ kế toán.
Như vậy, ba khâu công việc trong cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu đều hết sức quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sử dụng các nguồn lực nhằm hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Muốn vậy các đơn vị phải chủ động, linh hoạt sử dụng nguồn lực hiệu quả, tổ chức công tác kế toán thực sự khoa học, thống nhất từ khâu lập và tiếp nhận chứng từ đến khâu phản ảnh nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ sách và lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán góp phần vào quá trình thu thập xử lý thông tin phục vụ cho yêu cầu quản lý. Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ Theo quy định của Nhà nước, các đơn vị được thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ bao gồm các đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động, đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động. *Về việc lập dự toán thu, chi: Đối với hoạt động dịch vụ, cơ quan chủ quản không giao dự toán thu, chi; đơn vị sự nghiệp xây dựng dự toán thu, chi để điều hành trong năm.
Trước khi thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ ngoài mục tiêu, nhiệm vụ được giao, các đơn vị sự nghiêp có thu phải trình danh mục đăng ký kê khai giá dịch vụ (ngoài khoản thu theo Pháp lệnh phí, lệ phí và danh mục giá theo Nhà nước quy định) hoặc trình đề án nếu đơn vị thực hiện góp vốn, liên doanh, liên kết lên cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện và thực hiện các thủ tục kê khai nộp thuế theo quy định của Nhà nước. *Về việc thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ Đối với hoạt động SXKD, dịch vụ tận dụng cơ sở vật chất, kỹ thuật và năng lực sẵn có nhằm tăng thu nhập cho đơn vị thì phải lập đề án và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại Nghị định 151/2017/NĐ-CP 19 ngày 26/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản công. Phần thu của hoạt động sau khi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước là một nguồn tài chính của đơn vị; được quản lý và sử dụng theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2016. Về chế độ báo cáo: Các đơn vị thực hiện quyết toán thu, chi hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong báo cáo tài chính tổng thể của đơn vị.
Nội dung và các khoản chi thường xuyên tại đơn vị sự nghiệp có thu 1. Khái niệm chi thường xuyên Chi thường xuyên là quá trình phân bổ, sử dụng thu nhập từ các quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi của các cơ quan, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công lập, qua đó thực hiện nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ chuyên môn được giao. Nói cách khác chi thường xuyên là quá trình phân bổ, sử dụng quỹ ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của đơn vị.