CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về năng lực, kiến thức, kỹ năng, Đào tạo Y khoa liên tục (CME). Theo định nghĩa của Hội đồng công nhận Đào tạo Y khoa sau đại học (Hoa Kỳ) (ACGME) (22): Năng lực được hiểu là năng lực chuyên môn của người thực hành Y khoa, thể hiện sự thành thạo trong giao tiếp, nền tảng cơ bản về kiến thức y học, kỹ năng thực hành lâm sàng và phát triển đạo đức nghề nghiệp. Kiến thức: là tổng hợp các kiến thức được đánh giá dựa trên lý thuyết bao gồm i) các kiến thức khoa học cơ bản như giải phẫu, hóa sinh, vi sinh, miễn dịch; ii) kiến thức bệnh học như giải phẫu bệnh, sinh lý bệnh; iii) kiến thức chuyên khoa như sản khoa, nhi khoa, ngoại khoa, nội khoa; iv) kiến thức khoa học xã hội như: dịch tễ học, tâm lý học, đa dạng văn hóa, kinh tế y tế.
Hiện nay, trong khung đánh giá năng lực của Bộ Y tế Việt Nam, kiến thức đang được đánh giá ở các mục như i, ii, iii (23). Kỹ năng: được đo lường ở các khía cạnh đó là: i) kỹ năng giao tiếp ứng xử với đồng nghiệp, bệnh nhân; ii) kỹ năng thể hiện tính chuyên nghiệp trong chuyên môn gồm (khai thác bệnh sử, biện luận lâm sàng, kỹ năng trong làm việc trong xử lý ca bệnh, thực hành dựa trên quy chế bệnh viện. Trong đó kỹ năng biện luận lâm sàng tức là thể hiện sự công nhận các vấn đề y học thông thường và suy luận theo giả thuyết cho các vấn đề y học phức tạp nếu nằm ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ. Biện luận lâm sàng thể hiện mức độ chuyên nghiệp trong năng lực của bác sĩ thường hoạt động liên quan đến việc giải thích cách thức làm việc được xây dựng dựa trên mạng lưới tổng hợp kiến thức về lý thuyết khoa học và kinh nghiệm thực hành trong y khoa.
Các mạng lưới này giúp bác sĩ bắt đầu quá trình giải quyết vấn đề từ những thông tin tối thiểu và sử dụng thông tin tiếp theo để tinh chỉnh hiểu biết về vấn đề y học. Suy ngẫm cho phép bác sĩ kiểm tra các chiến lược lý luận lâm sàng của riêng họ (24). Đạo đức nghề nghiệp: thể hiện bằng thái độ của người bác sĩ trong thực hành lâm sàng được bệnh nhân và đồng nghiệp đánh giá chính xác hơn so với các cơ quan cấp phép và hay lãnh đạo cấp trên. Đạo đức nghề nghiệp được thể hiện ở các khía cạnh vô hình, 5 không đo lường được như sự tin cậy, tính chuyên nghiệp (25).
Nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng cảm xúc là trung tâm của mọi phán đoán và ra quyết định lâm sàng cụ thể là chỉ số trí tuệ cảm xúc (emotional intelligence) và sự tự tin về bản thân (self-efficacy) trong thực hành lâm sàng (26). Đào tạo Y khoa liên tục (CME): Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): "Đào tạo Y khoa liên tục- CME là một hoạt động được xác định rõ ràng để phát triển chuyên môn của cán bộ y tế, dẫn đến việc cải thiện chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân. CME bao gồm tất cả các hoạt động học tập mà cán bộ y tế mong muốn thực hiện để có thể thường xuyên, liên tục nâng cao năng lực chuyên môn của mình”(27). Từ thập niên 2000, sự ra đời của thuật ngữ “phát triển nghề nghiệp liên tục” CPD viết tắt của Continuing Professional Development dần được sử dụng rộng rãi và thay thế cho thuật ngữ CME tại một số quốc gia phát triển như Vương Quốc Anh, Úc, Canada, Mỹ và một số nơi ở Châu Âu: "CPD là tất cả quá trình đào tạo ngoài giáo dục đại học hoặc đào tạo sau đại học giúp duy trì và cải thiện khả năng của mình bao gồm quá trình đào tạo để cải thiện kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi trên tất cả các lãnh vực trong quá trình làm việc.
CPD bao gồm cả hoạt động học tập chính thức và không chính thức”(28). Trên thực tế, sự phân biệt giữa CPD và CME là không rõ ràng, tuy nhiên theo các chuyên gia đào tạo cho rằng CPD bao trùm CME, hay nói cách khác CME là một phần của CPD (28). Về bản chất, hệ thống CPD có một sự khác biệt với CME đó là lấy sự chăm sóc bệnh nhân làm trung tâm; làm việc trong sự hợp tác đa chuyên ngành để giải quyết ca bệnh; khai thác thực hành dựa trên bằng chứng y khoa; áp dụng sự cải thiện chất lượng; và sử dụng công nghệ thông tin dành cho sức khỏe để thúc đẩy sự hợp tác tốt hơn giữa các nhà lâm sàng nhằm thúc đẩy sự cải thiện trong chăm sóc sức khỏe người bệnh (29), (30). Trong ngành Y tế, đào tạo y khoa liên tục là công tác quan trọng nhằm tăng cường chất lượng đội ngũ nhân lực y tế.
“Nghề Y có đặc thù quan trọng do gắn liền với tính mạng và sức khỏe của con người, việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chế tối thiểu sai sót chuyên môn là nhiệm vụ bắt buộc với mọi người hành nghề. Trên thế giới đào tạo y khoa liên tục luôn gắn liền lịch sử ra đời và phát triển của nghề Y. Trong bối cảnh hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và nhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ y tế, việc đào tạo liên tục càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết” 6 (23). Các hình thức đào tạo từ xa 1.
E-learning: có nghĩa là “học tập điện tử”, đặc trưng cho các hệ thống giáo dục vào đầu thế kỷ 21. Năm 2008, định nghĩa “E-learning” là mô hình đào tạo trong đó sử dụng các công nghệ hiện đại và internet để cải thiện chất lượng học tập khi tiếp cận nguồn tài nguyên, dịch vụ và sự cộng tác từ xa” (31, 32). Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng cho rằng “học tập điện tử” là một công cụ giao tiếp, tương tác và gắn với vai trò thứ yếu cho các khía cạnh khác như công nghệ thông tin”(33, 34). E-Learning đầu tiên được cung cấp bởi Isaac Pitman vào những năm 1840, người đã dạy học sinh của mình tốc ký qua thư từ.
Năm 1924, máy chấm điểm đầu tiên được phát minh bởi Sidney Pressey, người đã thiết kế một bộ máy nhỏ cho điểm kiểm tra và thực hiện việc học tập theo chương trình trực tuyến sơ khai (35). Vào năm 1958 Burrhus Frederic Skinner, một nhà tâm lý học Harvard đã chế tạo ra một máy dạy học mà qua đó học viên và giảng viên có thể phản hồi ngay lập tức, cho phép những sinh viên thực hiện một hướng dẫn được lập trình rõ ràng và ngắn gọn liên quan đến mục tiêu học tập (35). Tuy nhiên, mãi đến năm 1960, chương trình đào tạo dựa trên máy tính đầu tiên mới được thiết kế cho sinh viên, được gọi là PLATO (Lập trình Logic cho các hoạt động dạy học tự động). Chương trình này ban đầu được thiết kế cho sinh viên theo học tại Đại học Illinois, nhưng cuối cùng đã được sử dụng trong hầu hết các trường học trong toàn khu vực nước Mỹ (36).
Sau đó, vào những năm 1970, Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto đã thiết kế một máy tính di động với đồ họa có độ phân giải cao, được gọi là Alan Kay’s Dynabook. Những phát minh ban đầu này đã dẫn đến sự ra đời của máy tính Macintosh và các giao diện người dùng đồ họa được sử dụng trong các thiết bị khác nhau ngày nay (35). Mặc dù sự phát triển các phần mềm trong giáo dục là quan trọng, E-learning đã được thúc đẩy mạnh mẽ với sự xuất hiện của Internet trong những năm 1990. Sự kết nối giao tiếp được cung cấp bởi Internet và các nguồn tài nguyên rộng lớn có sẵn thông qua World Wide Web là nền tảng chính của học tập điện tử ngày nay (35).
Vào đầu những năm 1990, một số trường học đã được thành lập chỉ cung cấp các khóa học trực tuyến, do đó tối đa hóa khả năng của Internet để cung cấp giáo dục cho những người trước đây 7 không thể theo học đại học vì hạn chế về địa lý hoặc thời gian. Vào những năm 2000, các doanh nghiệp bắt đầu sử dụng E-Learning để đào tạo nhân viên của mình. Những người lao động mới và có kinh nghiệm có cơ hội nâng cao nền tảng kiến thức ngành và mở rộng kỹ năng nghề nghiệp của họ. Ở nhà, các cá nhân được cấp quyền truy cập vào các chương trình cung cấp cho họ khả năng kiếm được bằng cấp trực tuyến và làm giàu cuộc sống của họ thông qua kiến thức mở rộng (36).
Một số nghiên cứu đã được thực hiện về E-Learning cho thấy có các hiệu quả nhất định, nhưng vẫn chưa đủ bằng chứng để kết luận về E-Learning là hình thức học tập nâng cao kiến thức và tác động đến thực hành hàng ngày của nhân viên y tế (37). Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thừa nhận E-learning cần được ứng dụng trong y tế một cách rộng rãi. Đây là một phương thức đào tạo hữu ích trong đào tạo lực lượng y tế và cho phép tiếp cận rộng rãi hơn cho những người bị hạn chế về địa lý như vùng sâu, vùng xa, nơi y tế chưa phát triển (WHO, 2015). E-health: Y tế điện tử (bao gồm cả elearning) dựa trên nguyên tắc cơ bản là cung cấp dịch vụ giáo dục trực tuyến với tài nguyên học tập và mô hình phòng học ảo, đồng thời gắn liền với cơ sở dữ liệu về EMR (sổ sức khỏe điện tử) (38).
Cuộc khảo sát toàn cầu lần thứ ba của WHO về y tế điện tử (E-health) chỉ ra rằng không thể đạt được bao phủ y tế toàn dân nếu không có sự hỗ trợ của y tế điện tử (WHO, 2015). Y tế điện tử (E-health) nâng cao khả năng chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân bằng cách cung cấp thông tin bệnh nhân chính xác và kịp thời thông qua hồ sơ sức khỏe điện tử (EMR), đồng thời cải thiện hoạt động và hiệu quả tài chính của hệ thống chăm sóc sức khỏe (WHO, 2016). Các chính phủ, tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ ngày càng áp dụng E-health để nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề sức khỏe, và “học tập điện tử” đã trở thành một trong những sáng kiến then chốt nhằm cải thiện sức khỏe toàn cầu (39). Mặc dù việc sử dụng rộng rãi E-learning, E-health trong các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, hiện nay vẫn còn thiếu các nghiên cứu về tính hiệu quả E-Learning, Ehealth trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe (40).