CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA THƯ VIỆN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Xã hội hóa Xã hội hóa là thuật ngữ đã được các nhà kinh tế học, xã hội học, giáo dục học từ những năm cuối thế kỷ XIX và những năm đầu của thế kỷ XX sử dụng, nhằm biểu đạt một số vấn đề thuộc các lĩnh vực nghiên cứu của mình. Xã hội hoá là một khái niệm của nhân loại học và xã hội học, được hiểu theo hai nghĩa: - Theo nghĩa rộng: Là sự tham gia rộng rãi của cộng đồng xã hội vào một số hoạt động mà trước đó chỉ có một ngành, một đơn vị chức năng nhất định thực hiện (ví dụ: Xã hội hoá giáo dục, xã hội hoá y tế.
Ở nghĩa này Côlin Fasen đã chỉ rõ: Xã hội hoá là một quá trình động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia tích cực và chủ động vào một lĩnh vực xã hội nào đó, huy động hợp lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước và của nhân dân nhằm đạt được mục tiêu phát triển xã hội.S Hoàng Vinh, “xã hội hóa văn hóa thực chất là xã hội hóa quyền tổ chức và điều hành các hoạt động văn hóa theo hướng đa dạng hóa chủ thể quản lý, nhằm thu hút đông đảo lực lượng xã hội, các tập thể và tư nhân đứng ra chăm lo các hoạt động văn hóa, tổ chức và điều hành quá trình sản xuất theo đúng pháp luật của Nhà nước”. 300] - Theo nghĩa hẹp: Xã hội hoá dùng để chỉ quá trình chuyển biến từ con người sinh vật sang con người xã hội. Ví dụ quan niệm của G.En Daweit cho rằng: Xã hội hoá được hiểu chung như là một quá trình biện chứng, trong đó mỗi người với tư cách là một thành viên của xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội và mặt khác, thông qua quá trình này duy trì và tái sản xuất xã hội. 21] 14 Tháng 10 năm 1998, Hội thảo quốc gia xây dựng chiến lược vận động xã hội cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường do Bộ Y tế - Unicef tổ chức, cho rằng: Xã hội hoá là một quá trình tập hợp tất cả các liên minh xã hội nhằm nâng cao nhận thức và nhu cầu của người dân về một chương trình phát triển trong một lĩnh vực nhất định để hỗ trợ cho việc cung ứng các nguồn lực và dịch vụ và để tăng cường sự tham gia của cộng đồng một cách tự lực và bền vững.
21] Như vậy, khái niệm xã hội hóa được sử dụng phổ biến hiện nay là khái niệm được hiểu theo nghĩa rộng. Xã hội hóa là sự chuyển hóa các hoạt động của cơ quan, tổ chức cho toàn xã hội tham gia, huy động tiềm lực của xã hội (vật lực, tài lực, nhân lực,…) vào hoạt động của cơ quan tổ chức. Khái niệm Xã hội hóa thư viện Khái niệm xã hội hóa thư viện được hiểu theo nghĩa rộng theo quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa hoạt động thư viện: Khuyến khích các tổ chức, cá nhân Việt Nam ở trong nước và ở ngoài nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài tặng cho tài liệu, tiền, tài sản, đóng góp công sức cho việc xây dựng và phát triển thư viện; tham gia các hoạt động do thư viện tổ chức; tạo điều kiện cho các cá nhân Việt Nam ở trong nước thành lập thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng. Thư viện với các chức năng văn hóa, giáo dục, thông tin và giải trí đã đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Do vậy, Đảng và Nhà nước rất quan tâm xây dựng và phát triển thư viện về mọi mặt. Là một thiết chế văn hóa, với chức năng của mình, TV đưa văn hóa đến con người, giúp con người nâng cao văn hóa và đời sống văn hóa. XHHTV thực chất là xã hội hoá các hoạt động thư viện, XHH sự nghiệp TV là quá trình hướng mọi hoạt động TV tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời xã hội tiếp nhận hoạt động TV như là công việc của mọi cá nhân, mọi tổ chức đoàn thể, mọi cấp chính quyền.
Có thể nói một cách khái quát: Nâng cao nhận thức của xã hội, của chính quyền các cấp, của các cơ quan về vai trò của thư viện trong thời kỳ mới. Vận động các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng sự nghiệp thư viện, tạo điều kiện cho nhân dân và các 15 tổ chức xã hội được tham gia một cách chủ động, bình đẳng vào các hoạt động thư viện.198] XHH thư viện bao gồm hai khía cạnh có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau một cách biện chứng, đó là: Thứ nhất là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp thư viện, tham gia các hoạt động bổ sung, xử lý và phục vụ người đọc, làm cho hoạt động thư viện ngày càng phát triển. Thứ hai là tạo điều kiện để toàn xã hội; đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được sử dụng thư viện, xóa dần sự chênh lệch về sự phát triển thư viện giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 138] XHHTV không phải là một giải pháp tình thế nhất thời chỉ được tổ chức thực hiện trong một thời gian nhất định mà là một tư tưởng cách mạng chiến lược lâu dài.
Điều 4, Pháp lệnh thư viện 2000 ghi rõ: Nhà nước đầu tư ngân sách để phát triển thư viện; mở rộng sự liên thông giữa các thư viện trong nước và hợp tác, trao đổi tài liệu với thư viện nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia phát triển các loại hình thư viện; thực hiện xã hội hóa hoạt động thư viện; đào tạo bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ những người làm công tác thư viện đáp ứng nhu cầu phát triển các loại hình thư viện.23] Nhìn chung, bản chất xã hội của XHH hoạt động TV chính là chuyển một phần công việc của Nhà nước sang cho nhân dân, tổ chức, tập thể, tư nhân, nhưng Nhà nước không giảm nhẹ trách nhiệm, không giảm ngân sách cho phát triển sự nghiệp thư viện. Như vậy, dựa vào những khái niệm xã hội hóa và xã hội hóa thư viện của các tác giả nêu trên, có thể xác định khái niệm XHH hoạt động thư viện là quá trình tương tác giữa cá nhân, tập thể trong xã hội với thư viện, những thành quả mà cá nhân, tập thể tích lũy được do tài năng, lao động đều đóng góp cho sự phát triển của sự nghiệp thư viện. Những văn bản Nhà nước về xã hội hóa thư viện 1. Văn bản của Chính phủ Để thực hiện chủ trương XHH, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 về Phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách XHH, nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực trong nhân dân, trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động XHH lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao.
Trong điều 16 “Xã hội hóa hoạt động thư viện” [30] nhấn mạnh “Nhà nước thực hiện chính sách xã hội hóa hoạt động thư viện, khuyến khích tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài tặng cho tài liệu, tiền, tài sản, đóng góp công sức cho việc phát triển thư viện; tham gia các hoạt động do thư viện tổ chức…”. Trong điều 23 “Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp”, mục 3 “Ủy ban nhân dân cấp xã” qui định trách nhiệm của ủy ban này về việc “ thực hiện xã hội hóa hoạt động thư viện ở cơ sở”. Trong điều 15 “Chính sách của nhà nước đối với thư viện hoạt động không bằng ngân sách nhà nước” qui định “người làm công tác thư viện trong các thư viện hoạt động không bằng ngân sách nhà nước được miễn học phí khi tham dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ do ngành văn hóa tổ chức”. Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao [11].
Tăng đầu tư cho văn hóa, trong đó ưu tiên các vùng nghèo, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Duy trì và phát triển dưới hình thức công lập đóng vai trò chủ chốt trong sự nghiệp phát triển thư viện. Có chính sách thu hút mọi nguồn lực, thành phần kinh tế, các tầng lớp nhân dân tham gia các hoạt động và sáng tạo văn hóa nhằm cung cấp, phổ biến và tạo ra nhiều sản phẩm. Thực hiện chủ trương XHH hoạt động văn hoá, Chính phủ chỉ đạo ngành văn hoá và các địa phương trong cả nước đẩy mạnh xhh các hoạt động văn hoá thông qua việc đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”.
Bộ Văn hoá – Thông tin chỉ đạo các đơn vị trong ngành cụ thể hóa kế hoạch của Ban 17 Chỉ đạo Trung ương và tiến hành thành lập Ban Chỉ đạo ở địa phương. Đồng thời, phối hợp các cơ quan hữu quan tiến hành kiểm tra, xử lý các vi phạm trong kinh doanh văn hoá phẩm. Tại các địa phương, Ban chỉ đạo ở các tỉnh, thành phố tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch hướng dẫn các quận, huyện, thị xã và các đơn vị cơ sở triển khai phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Văn bản của Bộ Văn hóa Thể thao – Du lịch và các Bộ, ngành khác Xuất phát từ quan điểm, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ nhân của xã hội, chủ thể của mọi hoạt động văn hoá nên trong quan điểm, đường lối và trong quá trình chỉ đạo thực tiễn, Đảng xác định: xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân.
Từ nhận thức đó, Đảng đã đề xuất và khẳng định, nhiệm vụ XHH các hoạt động văn hoá là một đòi hỏi khách quan, là nhu cầu, điều kiện và động lực cho sự phát triển văn hóa. Mục tiêu của việc XHH văn hoá là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân và toàn xã hội vào quá trình sáng tạo những giá trị văn hoá và phát triển các hoạt động văn hoá nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về văn hoá, khoa học, nâng cao sự phát triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức của nhân dân [6, tr.