Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng thư viện số tại Học viện Hành chính Quốc gia Chương 2: Thực trạng xây dựng thư viện số tại Học viện Hành chính Quốc gia Chương 3: Giải pháp xây dựng thành công thư viện số tại Học viện Hành chính Quốc gia z 14 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG THƢ VIỆN SỐ TẠI HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA 1. Một số khái niệm cơ bản về thƣ viện số 1. Khái niệm thư viện số Cùng với sự phát triển và ứng dụng rộng rãi của công nghệ thông tin và truyền thông, thư viện số (TVS) đang ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trên thế giới, khái niệm này đã được sử dụng trong thập niên 1970 khi mà việc sử dụng máy tính đã thay đổi nhiều khía cạnh của dịch vụ thư viện.
Thập kỷ 80 đã chứng kiến sự ra đời của các hệ thống quản lý thư viện tích hợp cho phép xử lý cục bộ trong mỗi thư viện toàn bộ dây chuyền tư liệu truyền thống: theo dõi đơn đặt, đăng ký tài liệu, biên mục, xây dựng mục lục tra cứu trực tuyến (OPAC) cho bạn đọc và theo dõi việc cho mượn tài liệu. Từ thập niên 90 đến nay, khái niệm này được sử dụng rộng rãi. Hiện nay, nhiều thư viện điện tử và TVSđã được xây dựng ở các nước phát triển. Nhiều khái niệm đã được công bố trong giới học giả toàn cầu về thư viện nhằm định nghĩa rõ ràng một TVS.
Một số định nghĩa tiêu biểu về TVS: Hiệp hội Thư viện số Hoa kỳ (Digital Library Federation) đã đưa ra một khái niệm“TVS là các tổ chức cung cấp tài nguyên, gồm các nhân viên chuyên biệt giúp lựa chọn, tổ chức, cung cấp khả năng truy cập thông minh, chỉ dẫn, phân phối, bảo quản tính toàn vẹn và sự thống nhất của các bộ sưu tập số theo thời gian để đảm bảo làm sao cho chúng luôn sẵn có để truy xuất một cách dễ dàng và kinh tế nhất đối với một cộng đồng ngườu dùng hoặc một nhóm cộng đồng người dùng”(Raitt, 1999). Theo quan điểm của Liên đoàn Thư viện số thếgiới (DLF - Digital Library Federation):“TVS là tổ chức cung cấp nguồn lực – tài nguyên, bao gồm cả các chuyên gia để lựa chọn, cấu trúc, cung cấp khả năng truy cập tới các nguồn tri thức, phân phối, bảo đảm tính vẹn toàn và tính lâu dài của các z 15 bộ sưu tập số để cho một cộng động hoặc một tập hợp cộng đồng người dùng tin xác định luôn có thể sử dụng một cách nhanh chóng, kịp thời và kinh tế”. Theo quan điểm của Liên hiệp TVScủa Mỹ (American Digital Feder - ADF) thì: “TVS là cơ quan, tổ chức có các nguồn lực, kể cả nguồn nhân lực chuyên môn hoá để lựa chọn cấu trúc, diễn giải, phổ biến, bảo quản sự toàn vẹn, đảm bảo sự ổn định trong thời gian dài của bộ sưu tập các công trình số hoá mà chúng ta cóở dạng sẵn sàng để sử dụng một cách kinh tế cho một hay một số cộng đồng nhất định”. Hai học giả người Nga là Sokolova và Liyabev cho rằng: “TVS là một hệ thống phân tán có khả năng lưu trữ và tận dụng hiệu quả các loại tài liệu điện tử khác nhau, màgiúpngườidùng có thể truy cập và được chuyển giao thông tin dễ dàng qua mạng máy tính” (Xiao, 2003).
Năm 2004, trong cuốn Từ điển khoa học thông tin thư việncủa Nhà xuất bản Libraries Unlimited, tác giả Joan M.Reitz lại khẳng định thư viện điện tử và thư viện số là một. Theo tác giả: “TVSlà bộ sưu tập thông tin có tổ chức, là tập hợp các đối tượng dữ liệu số bao gồm cả văn bản, hình ảnh, âm thanh. được quản trị, truy cập, khai thác thông qua hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông”. Tại Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu về TT-TV cũng đưa ra những khái niệm về TVS.
Theo tác giả Bùi Loan Thùy và Lê Văn Viết: “TVSlà thư viện chứa đựng các thông tin và tri thức được lưu trữ dưới dạng điện tử số trên các phương tiện khác nhau: bộ nhớ điện tử, đĩa quang, đĩa từ” (Thư viện học đại cương, tr. Cao Minh Kiểm: “TVSlà một thực thể, là một thư viện được tổ chức theo những phương thức mới và với nguồn tài liệu ngày càng đa dạng, có chất lượng phục vụ ngày càng cao, thời gian phục vụ ngày càng lớn” ( Thư viện số định nghĩa và vấn đề / Cao Minh Kiểm, Thông tin – Tư liệu. Hoàng Đức Liên và Thư viện viên chính Nguyễn Hữu Ty: “TVS là một thư viện điện tử cao cấp trong đó toàn bộ các tài liệu của thư viện đã được số hóa và được quản lý bằng một phần mềm chuyên ngiệp có tổ chức giúp người dùng dễ dàng truy cập, tìm kiếm và xem được nội dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các phương tiện truyền thông”(Giải pháp xây dựng các bộ sưu tập tài liệu số phục vụ đào tạo, nghiên cứu của các trường đại học[22]). TVS là một bước tiến xa hơn của thư viện điện tử hay nói cách khác, là thư viện điện tử cấp cao, cho phép đọc được thông tin toàn văn sau khi đã số hoá hầu hết tư liệu, đặc biệt là các tư liệu dưới dạng đồ hoạ (nhưtranh ảnh, bảnđồ,.) và đa phương tiện (multimedia) nóichung.
Như vậy, TVS được hiểu là một thư viện điện tử trong đó toàn bộ các tài liệu của thư viện đã được số hóa và quản lý bằng một phần mềm chuyên nghiệp có tổ chức giúp người dùng dễ dàng truy cập, tìm kiếm và xem được nội dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các phương tiện truyền thông. Khái niệm phần mềm thư viện số Phần mềm TVS là một hệ thống phần mềm có chức năng tạo lập, quản lý và khai thác các bộ sưu tập số. Về cấu trúc, phần mềm quản lý bộ sưu tập số gồm 2 nhóm chính: - Nhóm tác nghiệp: gồm các chức năng dành cho người làm thư viện xây dựng cấu trúc cho các bộ sưu tập số, thực hiện biên mục và tải tài liệu vào bộ sưu tập số. - Nhóm khai thác: bao gồm những chức năng dành cho NDT để khai thác thông tin trong các bộ sưu tập theo hai phương thức là duyệt xem thông tin và tìm tin.
z 17 Chuẩn biên mục Xây dựng Biên mục TL Duyệt TT Xem TL cấu trúc vào BST Tìm tin toàn văn, BST TL gốc TL Nhóm tác nghiệp Nhóm khai thác Sơ đồ1.1: Phần mềm quản lý TVS Nguồn: Tập bài giảng môn Đánh giá phần mềm thư viện-PGS. Đoàn Phan Tân 1. Khái niệm bộ sưu tập số và định dạng dữ liệu Bộ sưu tập số là những kho tài liệu số hóa, tập hợp những tài liệu số thuộc cùng một loại, theo chuyên đề, được tổ chức và lưu trữ sao cho người sử dụng có thể truy cập trên môi trường mạng. Các bộ sưu tập số có thể bao gồm các tài liệu số dưới nhiều dạng thức khác nhau: văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động.
Các tài liệu được lưu trữ trong những tệp tin với nhiều định dạng khác nhau: - Định dạng văn bản:. - Định dạng ảnh: gif; jpg. - Định dạng âm thanh: wav; mp3. - Định dạng video: mp4; fiv.
- Các tài liệu không thuộc dạng chữ được liên kết với các tài liệu dạng chữ hoặc được mô tả dạng chữ (ví dụ chú thích cho ảnh) để hỗ trợ việc tìm kiếm theo nội dung. Khái niệm xây dựng thư viện số Xây dựng TVS là các công việc tạo lập tài liệu số, xử lý tài liệu số, tổ chức các bộ sưu tập số, lưu trữ, bảo quản và khai thác tài liệu số gồm chính sách khai thác, quản lý truy cập người dùng tin trong môi trường điện tử. Các yếu tố cấu thành thƣ viện số 1. Người dùng thư viện số Đây chính là đối tượng, là mục tiêu và là đích hướng tới của bất kỳ của một thư viện nào.
Nếu không có bạn đọc thì thư viện sẽ mất đi lý do tồn tại của mình. Trong môi trường thông tin số, người sử dụng không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, có thể truy cập tới nguồn tin thông qua một máy tính có nối mạng (tương tác trên máy tính – giao diện interface). Người dùng thư viện số đòi hỏi phải có các kỹ năng máy tính, kiến thức chuyên môn, kiến thức thông tin. Tài nguyên thông tin số Tài nguyên thông tin số là một trong những yếu tố cấu thành TVS, có ý nghĩavô cùng quan trọng trong sự phát triển của thư viện.Tài nguyên thông tin số bao gồm các đối tượng số (digital objects) hay còn gọi là tài liệu điện tử là bất kỳ tài liệu nào được mã hoá, được lưu trữ trên các vật mang tin và người dùng tin có thể truy cập được thông qua thiết bị lưu trữ điện tử.
Nguồn tin số bao gồm dữ liệu trực tuyến (Online) và dữliệu ở trên vật mang tin vật lý như CD-ROM, DVD,VCD,… Tài liệu điện tử/số bao gồm tất cả các dạng tài liệu như sách, báo, tạp chí, phim ảnh, bản nhạc, các CSDL,…được bao gói hay được lưu giữ trên các vật mang tin điện tử/số, có nghĩa là tất cả những gì có thể đọc được, truy cập được thông qua máy tính hay mạng máy tính Đặc trưng của tài nguyên thông tin số: Ưu điểm: - Có mật độ thông tin rất cao, do vậy dung lượng thông tinđược lưu z 19 trữ trên chúng cũng rất lớn. - Cókhảnăngđatruycập,chophépngườidùngcóthểtìmtài liệu đồng thời theo nhiều dấu hiệu, nhiều điểm truy cập khácnhau và truy cập linh hoạt, nhanh chóng. - Khả năng liên hệ, tiếp cận với các tác giả, tạo ra kênhphảnhồi thông tin giữa người dùng tin và người sáng tạo ra thông tin. - Cho phép lưu giữ thông tin từ nhiều dạng nguồn tin khác nhau như văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động trong cùng một tài liệu.
- Khả năng cho phép nhiều người sử dụng cùng một tài liệumột lúc. - Khả năng cập nhật dữ liệu nhanh chóng và thườngxuyên. Nhược điểm: - Tínhantoànthôngtindễbịviphạm,doviệcsaochépthông tin từ các tài liệu điện tử rất dễ dàng, nhanh chóng. - Tính ổn định của thông tin thường không đồng nhất, có tài liệu thì rất ổn định, tồn tại lâu dài như các tài liệu ghi trên CD- ROM, DVD-ROM nhưng lạicó những tài liệu có đời sống rất ngắn.
Nguồn nhân lực thư viện số Có thể nói TVS là xu thế tất yếu của ngành thông tin thư viện toàn cầu. Để xây dựng và phát triển TVS thì việc đầu tiên cần làm là có được đội ngũ làm công tác thư viện số.