Chương 1: Những vấn đề chung về hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân. Chương 2: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân 1.
Khái niệm hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân Sự phát triển của các quan hệ xã hội trong nền kinh tế hội nhập ngày càng phong phú, đa dạng, là động lực mạnh mẽ dẫn đến nhu cầu thiết lập các quan hệ về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động của các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Cùng với đó, số lượng các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động được xét xử hằng năm ngày càng gia tăng nhanh chóng. Để giải quyết kịp thời và nhanh chóng tranh chấp thì có rất nhiều cách thức khác nhau, hoặc các bên tự thỏa thuận, bàn bạc để đi đến thống nhất, hoặc nhờ bên thứ ba làm trung gian hòa giải, hoặc đưa các tranh chấp ra cơ quan tài phán có thẩm quyền phán quyết…. Trong nhiều biện pháp giải quyết tranh chấp, hòa giải là một biện pháp quan trọng để giải quyết kịp thời các tranh chấp, hướng tới mục đích bình đẳng và hòa hợp trong các mối quan hệ xã hội.
Hòa giải đã trở thành một nét đẹp truyền thống, đạo lý của dân tộc Việt Nam giúp giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp góp phần giữ gìn sự hòa thuận cho từng gia đình, bình yên cho từng xóm làng, giữ trật tự, kỹ cương, an toàn xã hội, củng cố khối đoàn kết cộng đồng. Để tìm hiểu khái niệm hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự tại TAND, trước tiên cần tìm hiểu khái niệm thuật ngữ “hòa giải”. Theo Từ điển tiếng Việt thì “hòa giải” được hiểu là “việc thuyết phục các bên 4 đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách ổn thỏa” hay “hòa giải là dàn xếp 5 nhằm chấm dứt một cuộc xung đột” hoặc “hòa giải là thu xếp để chấm dứt một 6 cuộc xung đột, một mối bất hòa”. Các khái niệm này đã đưa ra một cách chung nhất về phương thức và mục đích của hòa giải, nhưng chưa nêu được đầy đủ các yếu tố như bản chất, nội dung, và chủ thể của hòa giải.
6 Từ điển Tiếng Việt (1999- 2000), Nxb. Văn hóa thông tin, tr. 4 Viện Ngôn ngữ (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb. 5 Viện Hàn Lâm Khoa học – Xã hội Việt Nam (1992), Từ điển tiếng Việt, Nxb.
Khoa học xã hội, tr. Từ điển Luật học năm 2006 thì “hòa giải” được hiểu là “thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thỏa. Thông thường, việc hòa giải được tiến hành sau khi thương lượng (khiếu nại) giữa các bên đã không 7 đạt được kết quả”. Khái niệm này đã chỉ ra được chủ thể, phương thức, thời điểm của hòa giải.
Theo từ điển Luật học Anh – Mỹ Black thì “hòa giải là một quá trình giải quyết tranh chấp mang tính chất riêng tư, trong đó, hòa giải viên là người thứ ba 8 trung gian giúp các bên tranh chấp đạt được một sự thỏa thuận”. Cách hiểu này đã nêu lên được hành vi, vai trò trung gian của bên thứ ba trong hòa giải. Trong khoa học pháp lý, cũng có nhiều khái niệm tồn tại về “hòa giải” như “hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp phù 9 hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội”. Quan điểm này thể hiện được bản chất, đặc điểm của hòa giải và chủ thể trung gian là bên thứ ba trung lập với vai trò giúp đỡ các bên tranh chấp thỏa thuận giải quyết tranh chấp một cách tự nguyện.
Quan điểm khác lại cho rằng “hòa giải là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên tự cùng nhau hoặc thông qua sự hướng dẫn giúp đỡ một cách có tổ chức của bên thứ ba để bàn bạc, thỏa thuận để tìm ra giải pháp 10 giải quyết xung đột giữa họ”. Theo quan điểm này, hòa giải được xem như là một biện pháp giải quyết tranh chấp, với sự giúp đỡ của bên thứ ba, các bên có thể cùng nhau tự thỏa thuận, thống nhất giải pháp giải quyết xung đột của mình. Như vậy, tuy các khái niệm về hòa giải có sự khác nhau nhưng chung quy lại thì hòa giải luôn là phương thức giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và thỏa mãn ba yếu tố gồm: (i) Có sự tranh chấp giữa hai bên; (ii) Có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc mỗi bên nhượng bộ một ít; (iii) Trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập để cho ý kiến 7 Viện Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Bách khoa toàn thư, tr.
8 Henry Campbell (1990), Từ điển Luật học Anh - Mỹ Black, Nxb. 9 Dương Quỳnh Hoa (2015), Cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế đối với các quan hệ thương mại ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 10 Huỳnh Tất Ngọc Trân (2009), Hòa giải vụ án kinh doanh, thương mại tại Tòa án, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
tư vấn đồng thời công nhận thủ thục hòa giải thành giữa các bên trong tranh chấp. Nếu không có sự tham gia của bên thứ ba này thì quá trình này gọi là tự hòa giải 11 hoặc thương lượng. Trong giải quyết vụ án dân sự tại TAND, tuy pháp luật chưa có khái niệm về hòa giải nhưng cũng có quan điểm về hòa giải tại TAND “hòa giải là một chế định quan trọng của luật tố tụng dân sự, là phương pháp giải quyết vụ án bằng chính sự 12 thỏa thuận, thương lượng của các đương sự”. Quan điểm này nêu lên được chủ thể tham gia hòa giải là các bên đương sự nhưng vẫn chưa nêu được vai trò của Tòa án trong quá trình hòa giải.
Theo quy định tại Điều 10 BLTTDS năm 2015 thì hòa giải là trách nhiệm của Tòa án nhằm tạo điều kiện cho các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và được tiến hành như một thủ tục cần thiết, bắt buộc và cũng là một thủ tục đặc trưng của tố tụng dân sự. Hòa giải tại TAND thể hiện vai trò của Tòa án là bên trung gian trong hòa giải. Nếu hòa giải thành thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận, vì vậy hòa giải cũng được xem là một biện pháp giải quyết tranh chấp. Chủ thể trung tâm của hòa giải là Tòa án sẽ giúp cho các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp và sự thỏa thuận về giải quyết tranh chấp phải do chính các bên tranh chấp quyết định.
Như vậy, hoà giải là một thủ tục tố tụng do TAND tiến hành, nhằm giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết quan hệ đó cho phù hợp với pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Từ những phân tích trên, theo quan điểm của tác giả thì hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự tại TAND cần được hiểu như sau: Hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân là một thủ tục tố tụng bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và được khuyến khích ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Theo đó, người tiến hành tố tụng với vai trò trung gian, có trách nhiệm hòa giải, giải thích pháp luật, giúp đỡ các bên đang có tranh chấp trong vụ án dân sự mà mình giải quyết nhằm hướng các bên đi đến thỏa thuận về một giải pháp giải quyết tranh chấp trên cơ sở đó Tòa án sẽ xem xét công nhận sự thỏa thuận của đương sự. 11 Lê Nết (2006), “Hòa giải trong tố tụng dân sự - nhìn từ góc độ kinh tế”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 02, tr.
12 Nguyễn Ngọc Điệp - Lê Thị Kim Nga - Vũ Mạnh Thông (1999), Tìm hiểu ngành luật tố tụng dân sự, Nxb. Mũi Cà Mau, tr. Đặc điểm của hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân Hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân có những đặc điểm đặc trưng như sau: Thứ nhất, hòa giải là một nguyên tắc cũng là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại TAND. Trong lĩnh vực dân sự, thông thường lợi ích của các bên được xem như là động lực để các bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự 13 và cũng chính là tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự.
Xuất phát từ sự tự nguyện, quyền tự định đoạt của đương sự trong quan hệ dân sự nên khi phát sinh tranh chấp từ các quan hệ này được thực hiện theo những biện pháp nhất định, không giống với tố tụng hình sự hay tố tụng hành chính. Trong đó, hòa giải là một biện pháp quan trọng và là nguyên tắc bắt buộc trong tố tụng dân sự mà Tòa án phải thực hiện. Bên cạnh đó, hòa giải cũng đã được các văn bản pháp luật về tố tụng trước đây khẳng 14 định là một nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết vụ án. Với tinh thần đó, BLTTDS năm 2015 tiếp tục khẳng định hòa giải là một nguyên tắc trong tố tụng dân sự: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”.
Đồng thời, tại Điều 10, Điều 205, Điều 206 và Điều 207 BLTTDS năm 2015 quy định hòa giải có tính bắt buộc phải tiến hành trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, trừ những vụ án không được hòa giải, những vụ án không tiến hành hòa giải được, vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn. Do hòa giải là một nguyên tắc bắt buộc phải tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, vì vậy nếu không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.