Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ CHẤT TƯỢNG NƯỚC SÔNG NHUỆ - ĐÁY 1. Khái quát về lưu vực sông Nhuệ - Đây Làm vực sông Nhuệ - sông Đáy là một trong những lưu vực lớn của nước ta, có vị trí địa lý đặc biệt, đa dạng và phong phú về tài nguyên và đồng vai trò đặc biệt quan trọng trong nên kinh tế của cả nước nói chung, của vùng đồng bằng sông Iléng néi riêng. lau vực nằm ở hữu ngạn sông IIồng với điện tích tự nhiên 7.665 kuÈ, dân số đến năm 2000 là 8.209/2 nghìn người. Lưu vực bao gồm một phần Thủ đô IIà Nội, thành phổ, 47 thị xã, thị trấn, 44 quận huyện và hơn 990 xã, phường.
Lưu vực có toa độ địa lý từ 208 - 21%20' vĩ độ Bắc và 105° - 10630 kinh độ Đông, bao gồm địa phận hành chính của các tỉnh sau (hình 1): -_ Tỉnh Hoà Bình gồm: huyện Lương Sơn, huyện Kim Bôi, huyện Lạc Thuỷ và truyện Yên Thuỷ. -_ Hà Nội gồm: huyện Từ Liêm, huyện Thanh Trì và nội thành. - Tỉnh Hà Tây gồm: thị xã Hà Đông, huyện Đan Phượng, huyện Hoài Đức, huyện Thường Tín, huyện Phú Xuyên, huyện Thanh Oai, huyện ứng Hoà, huyện Chương Mỹ, huyện Mỹ Đức - ‘Tinh Ha Nam: thi xã Phủ Lý. huyện Duy 'liên, huyện Lý Nhân, huyện Kim Bảng, huyện Jình Lục, huyện Thanh Liêm.
-_ Tỉnh Nam Định: thành phố Nam Định, huyện Nam Trực, huyện Vụ Bản, huyện Xuân Trường, huyện Trực Ninh, huyện Nghĩa Hưng, huyện Ý Yên, huyện Giao Thủy, huyện Hải Hậu. - Tinh Ninh Bình: thị xã Ninh Bình, thị xã Tam Điệp, huyện Gia Viễn, huyện Nho Quan, huyện [loa Lut, huyện Yên Khánh, huyện Yên Mô, huyện Ki Sơn Làm vực sông Nhuệ - Đáy được giới hạn như sau: -_ Phía Bắc và phía Đông được bao bởi đề sông Hồng kể từ ngã ba Irung Hà tới cửa Ba Lat véi chiéu dài khoảng 242 kim. -_ Phía Tây Bắc giáp sông Đà từ Ngồi Lát tới Trung lIà với chiều đài khoảng 33 km Nguyễn Trường Liuạnh - Cao học KIMT 2005 9 Luận văn thạc sỹ. Uiện KH&CN môi trường.
~_ Phía Tây và Tây Nam là đường phân lưu giữa lưu vực sông Hồng và lưu vực sông Mã bởi dãy núi Ba Vì, Cúc Phương - Tam Điệp, kết thúc tại núi Mai An Tiêm (nơi có sông Tống gập sông Cầu Hội) và tiếp theo là sông Cần dài 10 km rồi đổ ra biển tại cửa Càn. -_ Phía Đông và Đông Nam là biển Đông có chiều dai khoảng 95 km từ cửa Ba Lạt tới cửa Càn. CHỦ GIẢI 3 sáng hố +94 - Tên sống suối MA 7ÂY. Tên tĩnh, thành phố Ranh giới tỉnh, thành phố.
Bản đồ sông LVS Nhuệ - Đáy Sông Đáy là một phân lưu chính của sông Hồng trước kia, đã được người Pháp nghiên cứu và xây dựng đập Đáy. Từ năm 1937 đến 1966 đã có 3 lần mở đập Đáy, song đều bị sự cố vào các năm 1940, 1945, 1947 do bão lũ, lụt. Sông Nhuệ bắt nguồn từ sông Hồng qua cống Liên Mạc, cung cấp nước tưới và tiêu cho hệ thống Hà Đông - Hà Nam, hợp lưu với sông Đáy tại Phủ Lý và đổ ra biển tại cửa Diy, Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy có nhiều phụ lưu lớn chảy qua thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, tụ điểm dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất, dịch vụ, làng nghề. Đây là nguồn cung cấp nước nước ngọt quan trọng cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh.
Nguyễn Trường Huynh - Cao học KTMT 2005 10 Luận vẫn thạc sỹ Viện KH&CN môi trường 1. Sông Day Sông Đáy nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng, bát đầu từ cửa llái Môn cháy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Nhưng đến năm 1937, sau khi xây dựng xong đập Đáy nước sông liồng không thường xuyên vào sông Đáy qua cửa đập Đáy trừ những năm phân lä, vì vậy phản đầu nguồn sông (từ km 0 đến la Thá dài 71 km) sông Đáy coi như đoạn sông chết, Hiện tượng bồi lắng và nhân dân lấn đất canh tác cân trở việc thoát lũ mùa mưa. Lượng nước để nuôi sông Pay chủ yếu là do các sông nhánh, quan trọng nhất là sêng Tích, sông Bôi, sông Đào Nam Định, sông Nhuệ.
Sông chảy theo hướng TB - ĐN, đổ ra biển tại cửa Đây. Nguồn nước lự nhiên của sông Đáy kết hợp với điểu hoà của hệ thống công trình thuỷ lợi đã phục vụ đắc lực vi Íp nước cho dân sinh (nước sinh hoạt cấp cho các đô thị lớn như llà Đông, Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình.) và phát triển các ngành kinh tế khác như giao thông thuỷ, thuỷ sản, du lịch và đặc biệt là phát triển nông nghiệp - một ngành chính trong lưu vực. Sông bay là trục tiêu chính trong mùa lũ, sông Đáy hoàn toàn mang đặc thù của sông đồng bằng. Sông Đáy chảy giữa lưu vực với chiểu dài khoảng 247 km, lòng và bãi sông biến đổi mạnh về chiếu rộng.
Theo đặc điểm địa hình lòng dẫn, có thể chia đồng sông Đáy ra các đoạn dưới đây - Đoạn sông từ Văn Cốc đến đập Đáy đài 12 km, đạng hình phêu rộng trên 10 km: Đây là khu chứa lũ Vân Cốc có điện tích khoảng 3.200 ha tương ứng với độ cao 16m. - Đoạn từ đập Dáy đến Mai Lĩnh dài 23 km, chiểu rộng trưng bình giữa hai bờ đê khoảng 3.000 m, lòng sông quanh co, uốn khúc, nước lũ chủ yếu tràn trên bãi giữa hai đê. - Đoạn Mai lĩnh - 'Tần Í.ang dài 75 km, lòng sông quanh co, uốn khúc, chảy theo hướng Bắc - Nam. Có thể chia đoạn này ra lâm hai đoạn nhổ: + Đoạn Mai lĩnh - Ba Thả đài 27 km, khoảng cách giữa 2 đề 3.000 1n, nơi hẹp nhất (ttr Yên Nhân đến Viên Ngoại) rộng 700 mmụ lũ cháy trên bãi trần là chính.
Nguyễn Trường Liuạnh - Cao học KIMT 2005 ul Luận vẫn thạc sỹ Viện KH&CN môi trường + Đoạn Ba Thả - Tân Lang dài 48 km, khoảng cách giữa 2 bữ đê biến đổi từ 300 in & Bột Xuyên đến 1.500 m ở Phù Liêm Tế Trung - Hoà Xá, đề bờ hữu chỉ đáp đến Trịnh Tiết, tiếp đó sông chảy vào chân núi rồi xuôi xuống Tân Lang, nước lũ chủ yếu chảy trong lồng sông. - Đoạn Tân Lang - Giấn Khẩu dài 53 km, sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đến Phủ Lý, sau đó từ Phủ Lý đến Gián Khẩu đổi thành hướng Bắc - Nam, ở bờ hữu có dãy núi đá vôi Ninh Hình, Từ bờ sông vào chân núi là các cánh đồng của 7 xã thuộc huyện Kim Hẳng, có đê bối bao quanh để ngăn lũ nội đồng. - Đoạn từ Gián Khẩu đến biển dài 82 km, lồng sông mở rộng dần, chỗ rộng nhất tới 600 m và chỗ hẹp nhất là 150 m. Bờ tả có những bãi khá rộng, khoảng cách giữa 2 đê tới 3-4 km.
Đoạn sông này luôn chịu ánh hưởng của thủy triểu Chế độ đồng cl y tương đối phức tạp, vừa chịu ảnh hưởng của sông Hồng vừa chịu ảnh hưởng các sông nội địa và ảnh hưởng của thúy triểu Việc tiêu nước trên sông Đáy đùng động lực là chính, chỉ có một số khu vực miễn núi, trung du và giáp biển là có thể tự chảy vì lợi đụng được độ đốc và thuỷ triều. Hiện nay sông Đáy đã bị xâm nhập mặn ở vùng hạ du, phần thượng và trung iưu cũng đã bị ê nhiễm do nguền thải ở vùng dân cư tập trung, khu công nghiệp như Ha N6i, Pho Ly, Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình và đặc biệt là ứng, lụt ở vùng trăng Nam Định, Ninh Binh gay 6 nhiễm môi trường nói chung và môi trường nước nổi riêng. Sáng Nhuệ Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc để tưới cho hệ thống thủy nông Đan Hoài. Sông Nhuệ cồn tiêu nước chơ thành phổ Hà Nội, thị xã Hà Đông và chảy vào sông Đấy tại thị xã Phủ Lý.
Sông Nhuệ cố điện tích lưu vực 1,070 km”, chiếm 13,85% trong tổng diện tích lưu vực. "rên diện tích đó khu vực ảnh hưởng của thành phố Hà Nội gồm một phân diện tích trên 20 km2, bao gồm một phân diện tích của huyện 'Lhanh "Trì và 'Tt Liêm. Nước sông 'Lô lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ với lưu lượng trung bình từ: H- L7 mŸ/s, lưu lượng cực đại đạt 30 m3, Nguyễn Trường Liuạnh - Cao học KIMT 2005 12 Luận vẫn thạc sỹ Viện KH&CN môi trường Nước sông Nhuệ bị ô nhiễm bởi nước thải của thành phố Hà Nội. Đã xuất thiện nhiều sự cố về ruôi trường trên sông Nhuệ như cá chết hàng loạt do xả nước thải thành phố vào mùa cạn với lưu lượng lớn 3.
Bấn con sông thoát nước chính của Hà Nội - Sông Tô lịch dài 14,6 km, rộng trưng bình 40-45 m, sáu 3-4 m, bắt nguồn từ cống Phan Đình Phùng, chảy qua địa phận 'Iừ Liêm, Thanh Trì qua đập hanh Liệt và đổ vào sông Nhuệ. Đoạn cuối sông 'Lô Lịch đấm nhận toàn bộ nước thải của thành phố. - Sông Iắ (sông Nam Đồng) đài 5,6 km, rộng trung bình 30m, sâu 2 -3 m, nhận nước thải, nước mưa từ các cống Trịnh Hoài Đức, cống Trắng (Khâm Thiên) cháy qua Trung Tự về đường Trường Chỉnh và đổ ra sông Tô Lịch - Sông §éI đài 5,9 km rộng 10-30 mm, sáu 3-4 1n bắt nguồn từ cống Bà Triệu, hồ Bảy Mẫu rồi đổ ra sông Kim Ngưu ở Giáp Nhị - Sông Kim Ngưu đài 11,8 km réng 20-30m , sau 3-4 m, bat nguồn từ điểm xả cống Lô Đúc. Sông Kim Ngưu gặp sdng T6 Lich tại Thanh Liệt.
Các cơn sông này đóng vai trò quan trọng trong việc thoát nước và cũng được sử dụng làm nguồn nước cho nông nghiệp và nuôi cá. Hiện nay sự gia tầng rác rưởi và các chất thải đổ vào cũng như việc lấn chiếm bờ sông dang cản trở quá trình thoát nước và tăng sự nhiễm bẩn nước 4. Sáng Thanh Hà Sông Thanh Hà bắt nguồn từ dãy núi đá vôi ở gần Kim Bồi (Iiòa Bình), chảy vào vùng đồng bằng từ ngã ba Đông Chiêm ra đến Đục Khê, được ngăn cách giữa cánh đồng và núi bởi kênh Mỹ Hà đưa nước chảy thẳng vào sông Đáy. Diện tích I- ưu vực 390 km”, sông đài 40 km, chiều rộng trung bình lưu vực 9 km.
Séng Tich Bắt nguồn từ núi Tân Viên thuộc đấy núi Ba Vì theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có chiều dai 110 km đổ vào sông Đầy tại Ba Thá. Diện tích lưu vực 1.330 ki2, phần phía bờ phải 910 km”, phân phía bờ trái 390 km?. Lưu vực đài 75,5 km Tộng 17,6 km, độ cao rung bình lưu vực 92 m, độ dếc trung bình lưu vực 5,&%, mật độ lưới sông 0,66 km/km?