Luận văn: Nghĩa vụ người bán trong hợp đồng và thực tiễn tại Công ty Long Giang

Tài liệu nghiên cứu Luận văn đại học thương mại pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của ngƣời bán trong hợp đồng mua bán hàng, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Thương Mại

Chuyên ngành

Kinh tế Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận
55
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VÊ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

1.1. Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa và nghĩa vụ điều chỉnh của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2. Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.1. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.2. Đặc điểm và vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.3. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.4. Nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa

1.3. Nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.3.1. Khái niệm và đặc điểm nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.3.2. Sự cần thiết phải quy định nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.3.3. Cơ sở ban hành và pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.3.3.1. Khái niệm và cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3.3.2. Nội dung của pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3.3.2.1. Nghĩa vụ giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng
1.3.3.2.2. Nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng
1.3.3.2.3. Nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán
1.3.3.2.4. Nghĩa vụ chịu rủi ro đối với hàng hóa
1.3.3.2.5. Các nghĩa vụ khác

1.3.4. Nguyên tắc xác định pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.4. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ LONG GIANG

2.1. Tổng quan tình hình và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

2.1.1. Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

2.2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang

2.2.1. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang

2.2.1.1. Giao hàng đúng đối tượng
2.2.1.2. Giao chứng từ kèm theo hàng hóa
2.2.1.3. Giao hàng đúng địa điểm
2.2.1.4. Giao hàng đúng thời hạn

2.2.2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang

2.2.3. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang

2.2.4. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ chịu rủi ro đối với hàng hóa tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang

2.3. Các kết luận và phát hiện qua quá trình nghiên cứu pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

3.2. Một số giải pháp và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa đối với Nhà nước

3.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa đối với Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang

3.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

3.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống pháp luật thương mại Việt Nam. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người bán mà còn bảo vệ quyền lợi của người mua. Việc hiểu rõ các quy định pháp luật này giúp các bên tham gia giao dịch thực hiện nghĩa vụ của mình một cách hiệu quả và hợp pháp.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên về việc chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hóa. Đặc điểm của hợp đồng này bao gồm tính chất thương mại, tính pháp lý và tính khả thi trong việc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết.

1.2. Nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Nghĩa vụ của người bán bao gồm việc giao hàng đúng chất lượng, số lượng và thời gian đã thỏa thuận. Điều này không chỉ đảm bảo quyền lợi cho người mua mà còn tạo dựng uy tín cho người bán trong thị trường.

II. Vấn đề và thách thức trong việc thực hiện nghĩa vụ của người bán

Mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng về nghĩa vụ của người bán, nhưng trong thực tiễn vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức. Những bất cập này có thể dẫn đến tranh chấp giữa các bên và ảnh hưởng đến hiệu quả của hợp đồng.

2.1. Những khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng

Người bán thường gặp khó khăn trong việc đảm bảo giao hàng đúng thời hạn và chất lượng. Điều này có thể do nhiều yếu tố như thiếu hụt nguyên liệu, vấn đề logistics hoặc sự thay đổi trong nhu cầu thị trường.

2.2. Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ

Khi người bán không thực hiện đúng nghĩa vụ, họ có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý. Điều này bao gồm việc bồi thường thiệt hại cho bên mua và có thể dẫn đến việc mất uy tín trong kinh doanh.

III. Phương pháp và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán

Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về nghĩa vụ của người bán, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện tình hình hiện tại mà còn tạo ra một môi trường pháp lý ổn định cho các doanh nghiệp.

3.1. Đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật

Cần xem xét và sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tiễn. Điều này bao gồm việc làm rõ các nghĩa vụ của người bán và trách nhiệm pháp lý khi vi phạm.

3.2. Tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức

Đào tạo cho người bán về các quy định pháp luật và nghĩa vụ của họ trong hợp đồng mua bán hàng hóa là rất cần thiết. Điều này giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và trách nhiệm của mình.

IV. Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Công ty CP Đầu tư và phát triển Đô thị Long Giang

Công ty CP Đầu tư và phát triển Đô thị Long Giang là một trong những doanh nghiệp điển hình trong việc áp dụng pháp luật về nghĩa vụ của người bán. Việc thực hiện các quy định này không chỉ giúp công ty bảo vệ quyền lợi của mình mà còn tạo dựng niềm tin với khách hàng.

4.1. Thực trạng thực hiện nghĩa vụ giao hàng

Công ty đã thực hiện tốt nghĩa vụ giao hàng đúng thời hạn và chất lượng. Tuy nhiên, vẫn còn một số trường hợp xảy ra chậm trễ do các yếu tố khách quan.

4.2. Đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật

Việc áp dụng pháp luật tại công ty đã mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng cần có những cải tiến để nâng cao hiệu quả hơn nữa trong việc thực hiện nghĩa vụ của người bán.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc cải thiện quy định pháp luật và nâng cao nhận thức của người bán.

5.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật

Cần có những quy định rõ ràng hơn về nghĩa vụ của người bán để giảm thiểu tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của các bên.

5.2. Tương lai của hợp đồng mua bán hàng hóa

Với sự phát triển của nền kinh tế, hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Việc hoàn thiện pháp luật sẽ góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch và hiệu quả.

25/07/2025
Luận văn đại học thương mại pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của ngƣời bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa và thực ti n áp dụng tại công ty cp đầu tƣ và phát

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VÊ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 1. Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa và nghĩa vụ điều chỉnh của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa Ở Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa được ra đời cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế.

Xuất phát điểm từ một nền kinh tế nhiều thành phần phát triển bình đẳng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nên trong chặng đường xây dựng, thực hiện và phát triển kế hoạch mở rộng quyền tự chủ kinh doanh của mình thì các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau đều phải dựa vào các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo đó, hợp đồng mua bán được hình thành rất lâu đời, có vai trò tất yếu và luôn song hành với bất kì doanh nghiệp nào trên trường kinh doanh trước ngưỡng cửa hội nhập.Mac từng viết: “Tự chúng hàng hóa không thể đi tới thị trường và trao đổi với nhau được. Muốn cho những vật đó quan hệ với nhau như những hàng hóa thì người giữ hàng hóa phải đối xử với nhau như những người mà trong ý chí nằm trong các vật đó, mối quan hệ đó” [3]. Theo đó, mối quan hệ kinh tế giữa những người giữa hàng hóa được thiết lập trên cơ sở tự do, ý chí giữa các chủ thể trong quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hóa.

Dưới sự tác động điều chỉnh của pháp luật thì mối quan hệ trên trở thành một hợp đồng giao kết hàng hóa. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hợp đồng. Theo từ điển Tiếng Việt, hợp đồng là một sự giao dịch mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định. Theo phương diện kinh tế, hợp đồng thường gắn liền với dự án, trong đó một bên thỏa thuận với các bên khác thực hiện dự án hay một phần dự án cho mình.

Và cũng giống như dự án, có dự án chính trị xã hội và dự án sản xuất kinh doanh, hợp đồng có thể là các thỏa ước dân sự về kinh tế (hợp đồng kinh tế) hay xã hội. Theo phương diện pháp lí, hợp đồng là một cam kết giữa hai hay nhiều bên (pháp nhân), là sự thỏa thuận giữa các bên trong khuôn khổ pháp luật về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Trong kinh tế chính trị Mac-Lenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa có thể là hữu hình hay ở dạng vô hình như sức lao động.

Sự thay đổi và phát triển nhận thức đối với đời sống kinh tế 3]] Nguồn: Trích giáo trinh kinh tế học chính trị Mac- Lenin 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dẫn đến cách hiểu hàng hóa không như các nhà kinh tế cổ điển xác định. Phạm trù hàng hóa mất đi ranh giới của sự hiển hiện vật lý của vật thể và tiến sát đến gần phạm trù giá trị. Theo cách tiếp cận của luật học hiện nay, hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai hoặc những vật gắn liền với đất đai. Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa thì hiện nay trên thế giới có rất nhiều cách thức định nghĩa và nhiều nguồn tìm hiểu.

Theo pháp luật của nước Pháp: “Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận theo đó một bên có nghĩa vụ giao một vật và người kia có nghĩa vụ trả tiền cho vật ấy”. Việc mua bán được hoàn thành khi quyền sở hữu vật được coi đã chuyển sang cho người mua sau khi đã thỏa thuận về giá cả và vật bán, mặc dù vật chưa được giao và tiền chưa được trao. Việc mua bán có thể được tiến hành không kèm theo điều kiện đình chỉ thi hành hoặc điều kiện hủy bỏ [4]. Theo pháp luật Liên bang Nga quy định: “Bằng hợp đồng mua bán, một bên (bên bán) sẽ thực hiện quyền chuyển giao quyền sở hữu một vật (hàng hóa) cho bên kia (bên mua), trong khi đó bên mua sẽ chấp nhậ trả một khoản tiền nhất định (giá) cho hàng hóa đó” [5].

Ở Việt Nam, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12/1986 đã ra quyết định đổi mới cơ chế quản lí kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lí cũng yêu cầu cần được thay đổi. Do đó, ngày 25/9/1989 Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh hợp đồng Kinh tế bước đầu xây dựng một chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế. Bộ luật Dân sự 1997 được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 cũng đưa ra những quy định về hợp đồng dân sự. Luật Thương mại 1997 được Quốc hội thông qua ngày 10/5/1997 cũng quy định về hợp đồng đối với một số hành vi thương mại.

Tuy nhiên, sau nhiều lần bổ sung và thay đổi để phù hợp với cơ chế kinh tế thì ngày 14/6/2005, Bộ luật Dân sự 2005 được Quốc hội khóa 11 thông qua và có hiệu lực ngày 1/1/2006 thay thế cho Bộ luật Dân sự năm 1995 và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 được coi là đạo luật chung, thống nhất trong việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Luật Thương mại năm 1997 cũng được thay đổi và được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực ngày 1/1/2006 được coi là nguồn luật chính điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại bao gồm hai phạm trù: hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (gọi là hợp đồng ngoại thương). Như vậy, theo góc độ kinh tế hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các thương nhân (hoặc một bên là thương nhân) về việc thực hiện hoạt động mua 4[] Nguồn: Từ điều 1582 đến điều 1584, luật Dân sự Pháp 5[] Nguồn: Khoản 1, Điều 454, bộ luật Dân sự Liên Bang Nga 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bán hàng hóa nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Theo góc độ pháp lí, mặc dù không quy định cụ thể hợp đồng mua bán hàng hóa song đây được coi là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản được đề cập trong Luật dân sự năm 2005, đó là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.

Đặc điểm và vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa  Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa: Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí là hợp đồng mua bán hàng hoá, có bản chất chung của hợp đồng dân sự, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Bởi vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận và có tính sinh lời. Tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản thì hợp đồng được coi là đã giao kết, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhắm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực. Hai là, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ và có tính đền bù.

Mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán. Ba là, về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa phải là sự giao kết, thỏa thuận, dựa trên cở sở tự nguyện giữa các bên thương nhân hoặc một bên là thương nhân hoặc giữa các cá nhân, tổ chức khác có hoạt động kinh doanh thương mại. Theo luật Thương mại năm 2005, thương nhân bao gồm: tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.

Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm. Bốn là, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai. Ngoài ra, đối với hợp đồng mua bán quốc tế thì mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bởi vậy, đối tượng của hợp đồng là những hàng hoá theo quy định pháp luật của cả bên mua và bên bán.

Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện và điều kiện để được kinh doanh hàng hóa đó. Đồng thời, đối với hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện, việc mua bán chỉ được thực hiện khi hàng hoá và các bên mua bán hàng hóa đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.  Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa: Về phía doanh nghiệp: Hợp đồng hàng hóa có vai trò cốt lõi trong quá trình hoạch định chiến lược của doanh nghiệp mình, chi tiết hóa cấc kế hoạch kinh doanh như ngày, tháng, sản lượng, thời gian, địa điểm giao hàng, định giá, phương thức thanh toán hoặc quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia kí kết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ