Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ̣ vu ̣ môi trường rừng trên thế giới 1. Chi trả dich 1. Khái niệm về dịch vụ môi trường rừng và chi trả dich ̣ vụ môi trường rừng Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau nhưng có một số khái niệm được chấp nhận và sử dụng phổ biến là: ̣ vu ̣ hê ̣ sinh thái (Payments for Ecosystems Services - PES) - Chi trả dich ̣ vu ̣ môi trường rừng (Payments for Environment hay còn go ̣i là chi trả dich Services - PES) là cam kế t tham gia hơ ̣p đồ ng trên cơ sở tự nguyê ̣n có giàng buô ̣c về mă ̣t pháp lý và với hơ ̣p đồ ng này thì mô ̣t hay nhiề u người mua chi trả ̣ vu ̣ hê ̣ sinh thái xác đinh cho dich ̣ bằ ng cách trả tiề n mă ̣t, hỗ trơ ̣ cho mô ̣t hoă ̣c nhiề u người bán và người bán này có trách nhiê ̣m đảm bảo mô ̣t loa ̣i hin ̀ h sử du ̣ng đấ t nhấ t đinh ̣ cho mô ̣t giai đoa ̣n xác đinh ̣ để ta ̣o ra các dich ̣ vụ hệ sinh thái thỏa thuâ ̣n. - Định nghĩa chi trả dich ̣ vu ̣ môi trường rừng do Sven Wunder đưa ra đã được chấp nhận tương đối rộng rãi, trong đó tác giả giải thích “Chương trình chi trả dịch vụ môi trường” là một giao dịch tự nguyện trong đó, dich ̣ vụ môi trường được xác định rõ ràng, hoặc một hình thức sử dụng đất để duy trì dịch vụ đó, được mua bởi ít nhất một người mua, được cung cấp bởi ít nhất một người cung cấp, khi và chỉ khi người cung cấp tiếp tục cung cấp dịch vụ đó (tính điều kiện).
- Theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN): dịch vụ môi trường là “Các điều kiện và các mối hệ mà thông qua đó các hệ sinh thái tự nhiên và các loài phát triển tồn tại và phục vụ cho cuộc sống con người”. IUCN cũng đưa ra khái niệm về “chi trả dịch vụ môi trường” như sau: “Người mua [tự nguyện] đồng ý trả tiền hoặc các khuyến khích khác để 5 chấp nhận và duy trì các biện pháp quản lí tài nguyên thiên nhiên và đất bền vững hơn mà nó cung cấp dịch vụ hệ sinh thái xác định”. Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng ở một số quốc gia Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) là mô ̣t liñ h vực hoàn toàn mới, trong những năm 90 của thế kỷ XX mới đươ ̣c các nước trên thế giới quan tâm ̣ Với những giá tri ̣ và lơ ̣i ích bề n vững của viê ̣c chi trả dịch vụ môi thực hiên. trường rừng đã thu hút đươ ̣c sự quan tâm đáng kể của nhiề u quố c gia, nhiề u nhà khoa ho ̣c và các nhà hoa ̣ch đinh ̣ chính sách trên thế gới.
Chi trả dịch vụ môi trường rừng đã nhanh chóng trở nên phổ biế n ở mô ̣t số nước và đươ ̣c thể chế hóa bằ ng các văn bản pháp luâ ̣t. Hiê ̣n nay chi trả dich ̣ vu ̣ môi trường rừng đươ ̣c xem như mô ̣t chiến lược dựa vào thị trường để quản lý tài nguyên thiên nhiên, khuyế n khích, chia sẻ các lơ ̣i ić h trong cô ̣ng đồ ng và xã hô ̣i. Các nước phát triể n ở Mỹ La Tinh đã áp du ̣ng thực hiê ̣n các mô hình Chi trả dịch vụ môi trường rừng sớm nhấ t. Ở Châu Âu, chính phủ mô ̣t số nước cũng đã quan tâm đầ u tư và thực hiê ̣n nhiề u chương trình, mô hình.
Chi trả dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn hiện được thực hiện tại các quốc gia Costa Rica, Ecuador, Bolivia, Ấn Độ, Nam Phi, Mexico và Hoa Kỳ. Trong hầu hết là thực hiê ̣n tối đa hóa các dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn thông qua các hệ thống chi trả đều mang lại kết quả góp phần giảm nghèo. Ở Châu Úc, Australia đã lâ ̣p pháp hóa quyề n phát thải cacbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầ u tư đăng ký quyề n sở hữu hấ p thu ̣ cacbon của rừng. PES cũng đã được phát triể n và thực hiê ̣n thí điể m ở Châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quố c, Nepal và Viê ̣t Nam bước đầ u đã xây dựng được các chương trình PES có quy mô lớn, chi trả cho các chủ rừng để thực hiê ̣n bảo vê ̣ rừng nhằ m tăng cường cung cấ p các dịch vu ̣ bảo tồ n đa da ̣ng sinh ho ̣c, chố ng xói mòn, hấ p thu ̣ cacbon, cảnh quan du lich ̣ sinh thái, và đã thu được một số thành công nhất định trong công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho nhân dân vùng đầu nguồn.
6 Chi trả cho các DVMTR đang đươ ̣c thử nghiê ̣m ở mô ̣t số nước trên thế giới, Đông Nam Á nói chung và Viêṭ Nam nói riêng. Từ năm 2002, Trung tâm Nông lâm thế giới (ICRAF) đã tích cực giới thiêụ khái niê ̣m chi trả DVMTR vào Viêṭ Nam. Quỹ phát triể n Nông nghiêp̣ quố c tế (IFAD) đã hỗ trơ ̣ dự án đề n đáp cho người nghèo vùng cao cho các PES mà ho ̣ cung cấp ta ̣i Indonesia, Philippines và Nepal là “xây dựng cơ chế mới để cải thiê ̣n sinh kế và an ninh tài nguyên cho cô ̣ng đồ ng nghèo vùng cao ở Châu Á” thông qua xây dựng các cơ chế nhằ m đề n đáp người nghèo vùng cao về các PES ho ̣ cung cấ p cho các cô ̣ng đồ ng trong nước và trên pha ̣m vi toàn cầ u. Cho đến nay, hàng trăm sáng kiến mới về dịch vụ môi trường đã được xây dựng trên khắp toàn cầu, như: 1.1 Tại Châu Mỹ - Tại Hoa Kỳ, là quốc gia nghiên cứu và tổ chức thực hiện các mô hình PES sớm nhất, ngay từ giữa thập kỷ 80, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã thực hiện “Chương trình duy trì bảo tồn”, ở Hawaii đã áp dụng chính sách mua lại đất hoặc mua nhượng quyền để bảo tồn bảo vệ rừng đầu nguồn, duy trì, cải thiê ̣n nguồn nước mặt và nước ngầm, phục vụ đời sống sinh hoạt, phát triển du lịch, nông nghiệp và các ngành nghề khác.
Ở Oregon, Portland áp dụng chính sách bảo tồn và phát triển cá Hồi và môi trường sinh thái của chúng. Từ việc xác định và đầu tư đúng mục tiêu sẽ hình thành các dịch vụ hệ sinh thái, cụ thể họ đã phát triển du lịch sinh thái, lấy dòng sông nơi cá Hồi đẻ là nơi tham quan về sinh thái, lấy các khu rừng bị khai thác quá mức xưa kia là nơi giáo dục cho học sinh, sinh viên và du khách về ý thức bảo vệ rừng, v. Ở New York, chính quyền thành phố đã thực hiện các chương trình mua đất để quy hoạch và bảo vệ vùng đầu nguồn và nhiều chương trình hỗ trợ cho các chủ đất áp dụng các phương thức quản lý tốt nhất nhằm tích cực hạn chế các nguy cơ ô nhiễm đối với nguồn cung cấp nước cho thành phố. Các hoạt động hỗ trợ sản 7 xuất cho chủ đất được đầu tư từ nguồn tiền nước bán cho người sử dụng nước ở thành phố, kể cả du khách.
Chính quyền thành phố đã lập ra công ty phi lợi nhuận để tiếp thu nguồn kinh phí này và hỗ trợ các hộ nông dân là chủ đất đã nhượng quyền sử dụng đất cho thành phố. - Tại Costa Rica, năm 1996, PES thông qua Quỹ Tài chính Quốc gia về rừng (FONAFIFO) đã chi trả cho các chủ rừng và các khu bảo tồn để phục hồi, quản lý và bảo tồn rừng. FONAFIFO hoạt động trung gian giữa chủ rừng và người mua các dịch vụ hệ sinh thái. Nguồn tài chính thu được từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: thuế nhiên liệu hoá thạch, bán tín chỉ cacbon, tài trợ nước ngoài và khoản chi trả từ các dịch vụ hệ sinh thái.
FONAFIFO và nhà máy thủy điện chi trả cho các chủ rừng tư nhân cung cấ p dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn khoảng 45USD/ha/ năm cho hoạt động bảo vệ rừng của mình, và 116 USD/ha/ năm cho phục hồi rừng [5]. Mô ̣t số khách sa ̣n tham gia vào cơ chế chi trả DVMT để bảo vê ̣ lưu vực. Cơ sở của viê ̣c chi trả này là mố i tương quan chă ̣t chẽ giữa người cung cấ p DVMT nước do bảo vê ̣, duy trì cải thiêṇ chấ t lươ ̣ng nước và dòng chảy với người hưởng lơ ̣i là ngành du lich. ̣ Lý do là các hoa ̣t đô ̣ng ngành du lich ̣ phu ̣ thuô ̣c rấ t lớn vào trữ lượng và chấ t lươ ̣ng nước.
Vì vâ ̣y, từ năm 2005 mô ̣t số khách sa ̣n chi trả hàng năm 45,5 USD cho mỗi ha đấ t của các chủ rừng điạ phương và trả 7% trong tổ ng số chi phí hành chính của mô hiǹ h chi trả DVMT. Tuy nhiênở Cố t-xơ-ta Ri-ca, “vẫn chưa có mô ̣t cơ chế đươ ̣c thừa nhâ ̣n chung nào dựa vào lơ ̣i ích của mo ̣i người đươ ̣c chi trả trực tiế p từ vẻ đe ̣p cảnh quan và bảo tồ n đa da ̣ng sinh ho ̣c”[17]. - Tại Ecuador, Năm 1999 Quỹ bảo tồn nước quốc gia (FONAG) được thành lập các công ty nước đô thị ở Quito và Pimampiro xây dựng bằng cách áp phí lên nước sinh hoạt. Theo đó, tất cả các đơn vị công cộng sử dụng nước dành 1% doanh thu đóng góp vào FONAG.
Quỹ này được đầu tư cho việc bảo tồn lưu vực đầu nguồn và chi trả trực tiếp cho các chủ rừng. 8 - Tại Colombia, những người sử dụng nước phục vụ công - nông nghiệp ở Thung lũng Cauca đã thành lập các hiệp hội để thu các khoản chi trả tự nguyện cho các chủ rừng để cải thiêṇ dòng chảy và giảm bồ i lắ ng 0,5 USD/m3 nước thương phẩ m [5]. - Tại Bolivia, hai công ty năng lượng Mỹ phối hợp với một tổ chức phi chính phủ của Bolivia và Uỷ ban bảo vệ thiên nhiên để tài trợ cho việc ngừng khai thác gỗ và các hoạt động khác nhằm mở rộng diện tích và chất lượng của Vườn Quốc gia Noel Kempff với mục đích tăng cường hấp thụ cácbon. - Tại khu vực Trung Mỹ và Mexico, Chương trình về dịch vụ môi trường thủy văn (PSA-H) là chương trình PES lớn nhất châu Mỹ.
PSA-H tập trung vào bảo tồn các rừng tự nhiên bị đe dọa nhằm duy trì các dòng chảy và chất lượng nước. Mexico đã thành lập Quỹ lâm nghiệp năm 2002, thực hiện PES từ việc sử dụng đất.