Luận văn: Cạnh tranh thị trường và hiệu quả doanh nghiệp niêm yết TTCK

Luận văn nghiên cứu tác động của cạnh tranh thị trường đến hiệu quả hoạt động kinh doanh từ bằng chứng thực nghiệm các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.

Trường đại học

Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Tài chính – Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2025

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan cạnh tranh thị trường và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

Mối quan hệ giữa cạnh tranh thị trường và hiệu quả hoạt động là trọng tâm nghiên cứu kinh tế học hiện đại. Đề tài luận văn của tác giả Hà Văn Côi tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM tập trung phân tích thực nghiệm vấn đề này. Bối cảnh nghiên cứu là thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2011–2023. Đây là thời kỳ Việt Nam hội nhập sâu rộng và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do. Các doanh nghiệp niêm yết đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ cả trong và ngoài nước. Mức độ cạnh tranh thị trường sản phẩm tác động trực tiếp đến hành vi định giá, quản trị chi phí và năng suất của doanh nghiệp. Đề tài làm rõ cơ chế tác động của cạnh tranh đến hiệu quả tài chính và giá trị thị trường. Nghiên cứu cung cấp góc nhìn toàn diện cho các nhà quản trị và cơ quan quản lý. Dữ liệu thực nghiệm giúp xây dựng chiến lược phát triển bền vững cho cộng đồng doanh nghiệp trong nền kinh tế mở.

1.1. Khái niệm cạnh tranh thị trường và hiệu quả hoạt động

Cạnh tranh thị trường là quá trình ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh. Mục tiêu chính là thu hút khách hàng và gia tăng thị phần. Trong môi trường cạnh tranh, áp lực buộc các đơn vị phải liên tục cải tiến chất lượng và tối ưu giá bán. Hiệu quả hoạt động phản ánh khả năng sử dụng các nguồn lực đầu vào để tối đa hóa kết quả đầu ra. Các chỉ tiêu tài chính phổ biến bao gồm tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Ngoài ra, hệ số Tobin's Q đại diện cho giá trị thị trường và kỳ vọng tương lai của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp.

1.2. Bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 2023

Giai đoạn 2011–2023 đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của thị trường chứng khoán Việt Nam. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế bước vào chu kỳ phục hồi và tái cấu trúc. Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế thông qua việc ký kết 17 hiệp định thương mại tự do. Làn sóng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài tăng trưởng nhanh chóng. Các doanh nghiệp niêm yết chịu tác động sâu rộng từ cạnh tranh hàng hóa nhập khẩu. Để tồn tại, nhiều công ty bắt buộc phải tái cấu trúc bộ máy và ứng dụng công nghệ hiện đại. Thị trường chứng khoán trở thành thước đo minh bạch phản ánh sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.

II. Phân tích tác động cạnh tranh đến doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Các lý thuyết kinh tế cung cấp nhiều góc nhìn đa chiều về tác động của cạnh tranh. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficient Structure Hypothesis - ES) giải thích lợi thế của doanh nghiệp qua hiệu quả chi phí và quy mô. Doanh nghiệp có năng lực quản trị vượt trội sẽ kiểm soát tốt chi phí biên. Nhờ đó, họ gia tăng thị phần và chiếm lĩnh vị thế dẫn đầu ngành. Ngược lại, lý thuyết thị trường yên tĩnh (Quiet Life Hypothesis) cho rằng mức độ độc quyền cao làm giảm động lực đổi mới. Khi cạnh tranh gia tăng, ban điều hành buộc phải loại bỏ sự lãng phí để duy trì biên lợi nhuận. Tại thị trường Việt Nam, kết quả nghiên cứu chỉ ra cạnh tranh mang lại tác động tích cực rõ rệt. Cạnh tranh lành mạnh kích thích các đơn vị niêm yết tối ưu hóa nguồn lực sản xuất kinh doanh. Điều này giúp cải thiện năng suất lao động và nâng cao tỷ suất sinh lời thực tế.

2.1. Cơ sở lý thuyết cấu trúc hiệu quả và cuộc sống yên tĩnh

Lý thuyết cấu trúc hiệu quả phân chia thành hai nhánh chính gồm hiệu quả X (X-efficiency) và hiệu quả quy mô (Scale-efficiency). Theo giả thuyết hiệu quả X, tổ chức có năng lực quản lý tốt sẽ giảm thiểu chi phí tại mọi mức sản lượng. Nhờ ưu thế chi phí, họ nâng cao biên lợi nhuận và mở rộng thị phần. Theo giả thuyết hiệu quả quy mô, quy mô hoạt động lớn giúp giảm chi phí đơn vị nhờ lợi thế kinh tế theo quy mô. Trái lại, giả thuyết cuộc sống yên tĩnh cảnh báo rủi ro tự mãn. Các công ty có vị thế độc quyền thường ít chú trọng cải tiến quy trình, dẫn đến suy giảm hiệu quả dài hạn.

2.2. Bằng chứng thực nghiệm từ 275 doanh nghiệp niêm yết

Mẫu nghiên cứu bao gồm 275 doanh nghiệp phi tài chính với 3.575 quan sát giai đoạn 2011–2023. Tác giả sử dụng chỉ số biên lợi nhuận giá - chi phí hiệu chỉnh (EPCM) để đo lường mức độ cạnh tranh. Kết quả phân tích cho thấy cạnh tranh thị trường tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả hoạt động. Khi áp lực cạnh tranh gia tăng, các doanh nghiệp chủ động cắt giảm chi phí trung gian và nâng cao chất lượng dịch vụ. Các chỉ số ROA và Tobin's Q đều ghi nhận sự tăng trưởng tương ứng. Bằng chứng thực nghiệm bác bỏ giả thuyết thị trường yên tĩnh tại thị trường chứng khoán Việt Nam.

III. Phương pháp hồi quy SGMM đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

Để đảm bảo tính chuẩn xác và khách quan của kết quả nghiên cứu, việc lựa chọn mô hình kinh tế lượng phù hợp là yếu tố quyết định. Dữ liệu bảng của 275 doanh nghiệp niêm yết tiềm ẩn hiện tượng tự tương quan, phương sai sai số thay đổi và nội sinh. Mô hình hồi quy OLS hay FEM/REM truyền thống thường cho ước lượng chệch khi có biến trễ của biến phụ thuộc. Phương pháp hồi quy mô men tổng quát hệ thống (System GMM - SGMM) hai bước được lựa chọn làm công cụ ước lượng chính. SGMM giải quyết triệt để vấn đề nội sinh bằng cách sử dụng các biến trễ làm biến công cụ nội tại. Các kiểm định Hansen và Arellano-Bond (AR1, AR2) được thực hiện để khẳng định tính vững của mô hình. Dữ liệu tài chính doanh nghiệp được thu thập từ nguồn Vietstock uy tín, kết hợp số liệu vĩ mô từ Ngân hàng Thế giới. Phương pháp tiếp cận khoa học đảm bảo độ tin cậy cao cho các kết luận học thuật.

3.1. Thiết kế mô hình nghiên cứu và biến số định lượng

Mô hình nghiên cứu xem xét biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động qua hai thước đo ROA và Tobin's Q. Biến độc lập trọng tâm là chỉ số cạnh tranh EPCM. Đây là thước đo phi cấu trúc phản ánh mức độ nhạy cảm giữa chi phí biên và thị phần. Ngoài ra, mô hình kiểm soát các biến đặc trưng doanh nghiệp bao gồm quy mô tài sản (SIZE), đòn bẩy tài chính (LEV), tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROWTH) và độ tuổi doanh nghiệp (AGE). Các biến kinh tế vĩ mô gồm tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát (INF) cũng được đưa vào nhằm kiểm soát các cú sốc chu kỳ kinh tế bên ngoài.

3.2. Ưu điểm của kỹ thuật ước lượng System GMM hai bước

Ước lượng System GMM hai bước là phương pháp tối ưu cho cấu trúc dữ liệu bảng động. Mô hình xử lý tốt mối quan hệ nội sinh phát sinh từ tính tự tương quan của biến hiệu quả hoạt động quá khứ. Kỹ thuật này kết hợp đồng thời phương trình sai phân bậc nhất và phương trình mức gốc. Hệ thống biến công cụ nội tại giúp hạn chế mất mát thông tin khi loại bỏ các yếu tố tác động cố định không quan sát được. Hiệu chỉnh mẫu nhỏ Windmeijer được áp dụng để điều chỉnh sai số chuẩn. Kết quả kiểm định AR(2) và Hansen xác nhận công cụ ước lượng không bị tương quan chuỗi và biến công cụ hoàn toàn hợp lệ.

IV. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường chứng khoán

Kết quả thực nghiệm khẳng định cạnh tranh là động lực cốt lõi thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Môi trường thị trường cạnh tranh càng khốc liệt đòi hỏi các đơn vị phải chủ động nâng cấp năng lực nội tại. Về phía doanh nghiệp, ưu tiên hàng đầu là tối ưu hóa cơ cấu chi phí sản xuất và quản trị chuỗi cung ứng. Việc áp dụng công nghệ chuyển đổi số giúp giảm thiểu hao hụt và nâng cao năng suất lao động. Doanh nghiệp cần duy trì cơ cấu vốn hợp lý để giảm thiểu rủi ro kiệt quệ tài chính. Về phía cơ quan quản lý, nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý về cạnh tranh lành mạnh và minh bạch hóa thông tin thị trường chứng khoán. Việc gỡ bỏ các rào cản gia nhập ngành bất hợp lý sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo vươn lên. Sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách vĩ mô và chiến lược vi mô sẽ nâng cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.

4.1. Khuyến nghị quản trị chiến lược cho doanh nghiệp niêm yết

Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược quản trị chi phí tinh gọn và linh hoạt. Việc đẩy mạnh nghiên cứu phát triển (R&D) giúp tạo ra các sản phẩm khác biệt hóa có giá trị gia tăng cao. Doanh nghiệp cần đa dạng hóa danh mục khách hàng nhằm giảm thiểu rủi ro tập trung doanh thu. Quản trị dòng tiền và cơ cấu nợ vay chặt chẽ sẽ giúp bảo toàn năng lực tài chính trước biến động lãi suất. Bên cạnh đó, việc nâng cao tính minh bạch trong công bố thông tin tài chính và thực thi các chuẩn mực quản trị ESG tạo dựng niềm tin vững chắc đối với các nhà đầu tư tổ chức.

4.2. Hàm ý chính sách thúc đẩy cạnh tranh thị trường lành mạnh

Cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát thực thi Luật Cạnh tranh. Việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường giúp bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm các điều kiện kinh doanh không cần thiết. Nhà nước nên ban hành các gói chính sách ưu đãi thuế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ. Đồng thời, việc nâng cao tính thanh khoản và chuẩn hóa tiêu chuẩn niêm yết trên thị trường chứng khoán sẽ tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho toàn bộ nền kinh tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Luận văn cạnh tranh thị trường và hiệu quả hoạt động bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 và Chương 2 để đưa ra phương pháp phân tích hồi quy cho nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Thông qua Stata 17.0 luận văn trình bày các kết quả nghiên cứu từ việc hồi quy các dữ liệu được thu nhập và tiến hành phân tích các kết quả hồi quy. 8 Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Từ kết quả của Chương 4, tại Chương 5 tác giả tóm tắt, tổng kết và đưa một số đề xuất hàm ý quản trị giúp nâng cao và phát triển HQHĐ của các doanh nghiệp. Tổng quan về hiệu quả hoạt động 2.

Khái niệm hiệu quả hoạt động Hiệu quả hoạt động trong kinh tế học là thuật ngữ được sử dụng nhằm mục tiêu tối ưu hóa nguồn lực trong sản xuất hàng hóa, dịch vụ. Việc đo lường HQHĐ của doanh nghiệp là quan trọng bởi nó phản ánh thông tin về mục tiêu của các doanh nghiệp và mức độ đạt được. HQHĐ của doanh nghiệp của một công ty phản ánh tình hình sức khỏe của một công ty tại một thời điểm nhất định. Thật vậy, một doanh nghiệp được cho là có HQHĐ tốt khi sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ mà không sử dụng quá nhiều nguồn lực của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp có hiệu quả tốt thường thu hút nhiều nhà đầu tư, vì các nhà đầu tư thường theo dõi hiệu quả của công ty để đưa ra quyết định nên bắt đầu, duy trì, đầu tư tiếp hay chấm dứt đầu tư (Shad và c. Theo Richard và c. (2009), HQHĐ có thể đo lường bằng nhiều cách khác nhau. Tùy vào từ loại hình doanh nghiệp mà có thể chọn cách đo lường hiệu quả khác nhau, doanh nghiệp sẽ có lợi thế nếu chọn đúng phương pháp đo lường cho doanh nghiệp của mình.

Theo Yanuardi & Usman (2022), HQHĐ của công ty là các khía cạnh tài chính liên quan đến thu nhập, chi phí hoạt động, cấu trúc nợ, tài sản và lợi nhuận đầu tư. Hiệu quả doanh nghiệp phản ánh khả doanh nghiệp phân bổ và sử dụng nguồn nhân lực và nguồn lực vật chất để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. HQHĐ của doanh nghiệp đang được các công ty trên toàn thế giới đặc biệt quan tâm bởi lẽ nó như một thước đo hiệu quả của doanh nghiệp đó (Samad, 2022). HQHĐ của công ty được xem là chuẩn mực cho mức độ thành công của công ty đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp đó (Charles & Benson Ochieng, 2023).Điều này là do mục tiêu, mục đích và chính sách chiến lược mà một doanh nghiệp đưa ra để xác định là một doanh nghiệp có hiệu quả tốt (Singla & Singh, 2019).

Khái niệm về HQHĐ vẫn đang là vấn đề tranh cãi nguyên do từ chính nghĩa đa chiều của nó (Prahalathan & Ranjany, 2011). Hiệu quả có thể được tiếp cận từ hai quan điểm: tài chính và tổ chức (hai khía cạnh này có mối liên hệ với nhau); hiệu quả có thể đo lường thông qua năng suất, lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng hoặc thậm chí có 10 thể đến từ sự hài lòng của khách hàng (Tudose, 2012). HQHĐ có thể thể hiện ở việc tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi cho cổ đông và tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản) dựa trên hiệu quả của công ty (Chakraborty, 2023). HQHĐ đề cập đến việc doanh nghiệp tối đa hóa các nguồn lực trong quá trình sản xuất và cung cấp hàng hóa dịch vụ hiệu quả (Putra và c.

Phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động Hiện có nhiều tài liệu cho thấy rằng có nhiều phương pháp để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo Kaplan & Norton (2005) đề xuất đo lường HQHĐ bằng lợi nhuận của công ty, sự hài lòng của khách hàng hay năng suất của nhân viên. Nghiên cứu của Pham và c. (2020) chỉ ra rằng các thành phần của mô hình thẻ điểm cân bằng – Balanced Scorecard (BSC) có tác động đến hiệu quả của doanh nghiệp thông qua việc đánh giá hiệu quả dựa trên ảnh hưởng của các biến trong mô hình BSC.

HQHĐ được đo lường thông qua lợi thế cạnh tranh, lợi nhuận công ty và sự hài lòng của khách hàng (Truong và c. Kết quả là, nó cho thấy doanh nghiệp sẽ tăng giá trị tài chính doanh nghiệp, tăng trưởng và phát triển sản phẩm của doanh nghiệp đó nhằm đáp ứng hài lòng các nhu cầu của khách hàng và mức độ hoàn thành nghĩa vụ của doanh nghiệp càng cao khi công ty hoạt động tốt hơn (NGUYEN và c., (2022) HQHĐ có thể đo lường thông qua các chỉ số như chẳng hạn như lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi tức đầu tư (ROI), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), Tobin’s Q và cổ tức phải trả. (2020) tiết lộ rằng ROA cao hơn cho thấy năng lực của tổ chức về hiệu quả sử dụng tài sản và giá trị cổ đông. Ngoài ra, Javeed và c.

(2020) cũng cho thấy rằng khả năng sản xuất của một doanh nghiệp có mối liên hệ đến hiệu quả sử dụng tài sản. Trong khi đó, theo quan điểm của các cổ đông cho rằng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đã kiểm tra HQHĐ của doanh nghiệp tốt hơn (Miller & Del Carmen Triana, 2000). Chỉ số ROE chỉ rõ rằng các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt sử dụng vốn chủ sở hữu của mình như thế nào để doanh nghiệp có lãi trong kinh doanh giúp hấp dẫn cho các cổ đông (Hibbert và c. 11 Một số nghiên cứu tại Việt Nam về HQHĐ cũng khá phổ biến, các nghiên cứu tiếp cận đánh giá HQHĐ theo nhiều phương pháp khác nhau.

Nghiên cứu Tuyet & Ninh (2023) trong nghiên cứu về cạnh tranh thị trường và HQHĐ tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường Chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 2015 – 2019 thực hiện đo lường HQHĐ bằng ROE, ROA, ROS, nghiên cứu cũng chỉ ra cạnh tranh cải thiện HQHĐ ở mức vừa phải. Thuy (2023) thực hiện phân tích Quản trị công ty, cấu trúc vốn và HQHĐ doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm từ các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2021 thông qua chỉ số Tobin’s Q và ROA. Huỳnh Lợi & Phùng Anh Thư (2022) phân tích tác động của cạnh tranh ngành đến HQHĐ tại các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn từ 2011 – 2019 đo lường HQHĐ thông qua ROE, ROA và Tobin’s Q. Các nghiên cứu như Mubeen và c.

(2023); Bhatia (2024) cũng sử dụng hai biến ROE và ROA trong các bài nghiên cứu. ROA nhấn mạnh sự giàu có của cổ đông bằng cách sử dụng HQHĐ tài sản của doanh nghiệp, trong khi đó ROE chủ yếu được sử dụng trong quản trị doanh nghiệp (Mubeen và c. Cạnh tranh thị trường 2. Khái niệm cạnh tranh thị trường Cạnh tranh (compete) hay competere (nguồn gốc latin) được hiểu là sự tham gia tranh đua giữa các đối tượng với nhau.

Cạnh tranh cũng thể hiện qua sự nỗ lực hành động so với người có cùng mục tiêu và hành động tương tự để đạt kết quả tốt. Do đó, sự cạnh tranh (competition) còn có nghĩa là sự kiện bởi cá nhân hay tổ chức phải cạnh tranh với nhau để đạt được kết quả mong muốn mà không phải tất cả đều có thể giành được. Năng lực cạnh tranh (competitive) và lợi thế cạnh tranh 12 (competitive advantage) xuất hiện trong nhiều lý thuyết kinh tế và quản trị để giải thích cho các thành tựu (performance) cạnh tranh giữa các đối tượng khác nhau. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng năng lực cạnh là một khái niệm khó xác định, bởi tùy theo từng đối tượng năng lực cạnh tranh có thể hiểu khác nhau.

Như đối với doanh nghiệp năng lực cạnh tranh có thể là việc các doanh nghiệp các sản phẩm với chi phí thấp hơn các doanh nghiệp đối thủ trong và ngoài nước. Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh có nghĩa là doanh nghiệp đã đạt được các thành tựu đặt ra và phấn đấu thể hiện qua việc nâng cao năng lực của nhân viên hay lợi nhuận mà doanh nghiệp nhận lại. Năng lực cạnh tranh còn thể hiện qua việc doanh nghiệp thiết kế, sản xuất và tuyên truyền sản phẩm với việc tối thiểu hóa chi phí đồng thời sản phẩm được cung cấp có chất lượng tốt. Điều đó còn thể hiện qua việc cụ thể hóa quá trình sử dụng tài sản sẵn có để sản xuất từ đó chuyển hóa thành lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Cạnh tranh ngày càng trở nên quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội (Hartmann & Kjaer, 2015). Thật vậy, trong kinh tế học cạnh tranh là một khái niệm và đối tượng nghiên cứu được quan tâm (Altreiter và c. Ngay từ giữa thế kỷ 19, John Stuart Mill đã chứng minh rằng “chỉ thông qua nguyên tắc cạnh tranh, kinh tế chính trị mới có thể được xem là một ngành khoa học” (M. Nhiều nhà kinh tế như Adam Smith, Leon Walras, David Ricardo… cũng nghiên cứu, phân tích và chỉ ra nhiều quan điểm lý thuyết khác nhau và các cách tiếp cận về cạnh tranh thị trường như bản chất của cạnh tranh là tĩnh hay động, đưa ra các PPNC phù hợp đồng thời nghiên cứu cũng giải thích về mặt tích cực hay tiêu cực của cạnh tranh (Altreiter và c.

Cạnh tranh thị trường có nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng thị trường, ngành khác nhau. Cạnh tranh thị trường có thể định nghĩa CTTT là sự ganh đua giữa các chủ thể trong cùng một ngành (Porter, 1980). Sự ganh đua có thể quan sát thông qua các vấn đề như giảm giá hàng bán, khuyến mãi và quảng cáo trên thị trường sản phẩm, thể hiện qua nâng cao chất lượng sản phẩm hay đổi mới sản phẩm. Cạnh tranh còn được thể hiện thông qua năng lực của một công ty thông qua việc hạn chế tối thiểu hạn chế để các đối thủ cạnh tranh sao chép sự độc đáo 13 trong sản phẩm cũng như sự khác biệt trong sản phẩm đối với các doanh nghiệp hoạt động khác trong ngành.

Một số nghiên cứu đưa ra quan điểm rằng cạnh tranh thị trường là quá trình mà doanh nghiệp nỗ lực thực hiện các chính sách để thực hiện đạt mục tiêu mà doanh nghiệp đó mong muốn so với khả năng CTTT của các đối thủ cùng ngành. Các nghiên cứu điển hình như Moradi và c. Porter (1990); Fernández-Kranz & Santaló (2010) đã chỉ ra cạnh tranh là yếu tố quan trọng để xác định lợi nhuận và cũng phản ánh chính sách chiến lược của doanh nghiệp đó. Cạnh tranh thị trường là một công cụ để quan sát các hành vi của các nhà quản lý doanh nghiệp (Stigler, 1958).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ