Luận văn nhân tố ảnh hưởng thị giá cổ phiếu NHTMCP - Phạm Thanh Trúc

Luận văn phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, cung cấp mô hình và giải pháp cụ thể.

Trường đại học

Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Tài chính Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2025

100
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thị giá cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Thị giá cổ phiếu là thước đo cốt lõi phản ánh giá trị doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán. Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, thị giá cổ phiếu không chỉ thể hiện sức khỏe tài chính nội tại mà còn đại diện cho niềm tin của công chúng vào hệ thống tín dụng quốc gia. Thị trường định giá cổ phiếu ngân hàng dựa trên sự tương tác phức tạp giữa cung và cầu vốn. Quá trình hình thành thị giá chịu sự chi phối của nhiều lý thuyết tài chính kinh điển, tiêu biểu là lý thuyết định giá kinh doanh chênh lệch và lý thuyết bước đi ngẫu nhiên. Các nghiên cứu học thuật khẳng định việc nắm bắt biến động giá cổ phiếu giúp tối ưu hóa danh mục đầu tư. Việc duy trì thị giá ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng mở rộng quy mô vốn tự có, cải thiện hệ số an toàn vốn và gia tăng năng lực cạnh tranh. Định giá chính xác hỗ trợ cơ quan quản lý giám sát an toàn hệ thống tài chính hiệu quả hơn.

1.1. Khái niệm và vai trò thị giá cổ phiếu ngân hàng

Thị giá cổ phiếu ngân hàng là mức giá được xác định thông qua cơ chế giao dịch tập trung trên sàn chứng khoán. Đây là mức giá người mua sẵn sàng trả và người bán sẵn sàng chấp nhận tại thời điểm khớp lệnh. Vai trò của thị giá thể hiện qua khả năng phản ánh toàn diện sức mạnh tài chính và tiềm năng tăng trưởng của ngân hàng. Thị giá cao tạo lợi thế lớn trong việc phát hành thêm cổ phần, huy động vốn thứ cấp và thu hút đối tác chiến lược nước ngoài. Ngoài ra, sự ổn định của thị giá củng cố uy tín thương hiệu, gia tăng lòng tin cho người gửi tiền và bảo vệ lợi ích hợp pháp của cổ đông hiện hữu trong nền kinh tế.

1.2. Cơ sở lý thuyết định giá tài sản tài chính

Lý thuyết thị trường hiệu quả và lý thuyết định giá kinh doanh chênh lệch tạo nền tảng vững chắc cho việc phân tích thị giá cổ phiếu ngân hàng. Theo mô hình kinh tế, lợi nhuận kỳ vọng của cổ phiếu gắn liền với các yếu tố rủi ro hệ thống và phi hệ thống. Nhà đầu tư luôn tìm kiếm cơ hội chênh lệch giá để tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro tối thiểu. Khi thị trường xuất hiện tài sản định giá sai lệch, dòng vốn lập tức dịch chuyển nhằm thiết lập trạng thái cân bằng mới. Mô hình chiết khấu dòng tiền và lý thuyết bước đi ngẫu nhiên bổ sung góc nhìn sâu sắc về cách thức dòng tiền tương lai tác động đến mức giá giao dịch hiện hành.

II. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng thị giá cổ phiếu ngân hàng Việt Nam

Thị giá cổ phiếu của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam chịu sự tác động đồng thời từ yếu tố nội tại và môi trường vĩ mô bên ngoài. Yếu tố nội tại bắt nguồn từ các chỉ số tài chính cơ bản trong báo cáo tài chính định kỳ. Quy mô tài sản, khả năng sinh lời, chất lượng tín dụng và chính sách cổ tức đóng vai trò quyết định cấu trúc giá trị. Ngân hàng có năng lực tài chính vững mạnh luôn nhận được sự đánh giá tích cực từ thị trường. Mặt khác, các biến số kinh tế vĩ mô tác động trực tiếp đến tâm lý thị trường và kỳ vọng lợi nhuận. Tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát và lãi suất điều hành tạo ra môi trường kinh doanh chung cho toàn ngành ngân hàng. Sự biến động của dòng vốn ngoại và chính sách tiền tệ quốc gia cũng tạo ra những áp lực điều chỉnh thị giá rõ nét. Sự kết hợp giữa năng lực nội tại và bối cảnh vĩ mô định hình xu hướng giá cổ phiếu ngân hàng dài hạn.

2.1. Tác động từ nhóm nhân tố nội tại ngân hàng

Nhóm nhân tố nội tại giữ vai trò then chốt quyết định giá trị cơ bản của cổ phiếu ngân hàng. Quy mô tổng tài sản lớn giúp ngân hàng khai thác lợi thế quy mô, đa dạng hóa danh mục tài sản sinh lời và giảm thiểu chi phí huy động. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cùng thu nhập trên mỗi cổ phiếu phản ánh trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn. Khi thu nhập trên mỗi cổ phiếu tăng, niềm tin của nhà đầu tư được củng cố mạnh mẽ, thúc đẩy thị giá tăng trưởng. Ngược lại, tỷ lệ nợ xấu cao làm gia tăng chi phí trích lập dự phòng rủi ro, bào mòn lợi nhuận ròng và gây áp lực giảm thị giá cổ phiếu nghiêm trọng trên sàn chứng khoán.

2.2. Ảnh hưởng của chính sách cổ tức và tâm lý thị trường

Chính sách phân phối cổ tức phát đi tín hiệu quan trọng về triển vọng tài chính tương lai của tổ chức tín dụng. Tỷ lệ cổ tức tiền mặt hoặc cổ tức bằng cổ phiếu hấp dẫn thu hút lượng lớn dòng tiền từ nhà đầu tư cá nhân lẫn tổ chức. Cổ tức đều đặn giúp xoa dịu tâm lý ngại rủi ro của thị trường. Bên cạnh đó, tâm lý bầy đàn và kỳ vọng đầu cơ trong ngắn hạn thường khuếch đại biên độ dao động của thị giá. Những thông tin đồn đoán hoặc thay đổi trong ban điều hành cấp cao có thể kích hoạt các đợt bán tháo hoặc mua gom cổ phiếu đột biến, tạo ra sự chênh lệch lớn giữa thị giá và giá trị thực.

III. Phương pháp định lượng thị giá cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần

Để xác định chính xác mức độ tác động của từng nhân tố lên thị giá cổ phiếu ngân hàng, các nghiên cứu học thuật áp dụng mô hình kinh tế lượng hiện đại. Dữ liệu bảng thu thập từ các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên các sàn chứng khoán trong giai đoạn dài hạn cung cấp bức tranh toàn diện. Phương pháp nghiên cứu định lượng giúp loại bỏ tính chủ quan và lượng hóa chính xác các mối quan hệ phức tạp. Quy trình nghiên cứu chuẩn mực khởi đầu bằng phân tích thống kê mô tả và kiểm định tương quan ma trận nhằm phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến. Tiếp theo, các mô hình hồi quy gộp, mô hình tác động cố định và mô hình tác động ngẫu nhiên được triển khai so sánh. Kiểm định Hausman giữ vai trò quyết định trong việc lựa chọn mô hình tối ưu. Nhằm khắc phục triệt để hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi hoặc mô hình biến công cụ thường được vận dụng.

3.1. Xây dựng mô hình hồi quy và lựa chọn biến số

Mô hình nghiên cứu thiết lập biến phụ thuộc là thị giá cổ phiếu ngân hàng tại thời điểm đóng cửa cuối năm. Hệ thống biến độc lập được phân loại rõ ràng thành nhóm biến vi mô và vĩ mô. Biến vi mô bao gồm quy mô tài sản, thu nhập trên mỗi cổ phiếu, tỷ lệ chi trả cổ tức, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ an toàn vốn. Biến vĩ mô đại diện bởi tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát và lãi suất tái cấp vốn. Việc chuẩn hóa số liệu qua logarit tự nhiên giúp giảm thiểu độ lệch chuẩn và tăng tính đồng nhất cho chuỗi dữ liệu bảng nghiên cứu.

3.2. Kiểm định khuyết tật và hoàn thiện ước lượng

Kiểm định tính vững của mô hình hồi quy là bước bắt buộc trong nghiên cứu kinh tế lượng tài chính. Các kiểm định chuyên sâu được tiến hành để rà soát hiện tượng phương sai sai số thay đổi cùng tự tương quan chuỗi. Sự xuất hiện của các khuyết tật này có thể làm chệch ước lượng tham số hồi quy thông thường. Việc sử dụng kỹ thuật ước lượng hiệu chỉnh sai số chuẩn vững hoặc mô hình bình phương bé nhất tổng quát giúp đảm bảo các ước lượng thu được không thiên lệch và có phương sai nhỏ nhất. Kết quả kiểm định tạo nền tảng vững chắc cho việc rút ra kết luận khoa học có độ tin cậy cao.

IV. Ứng dụng quản trị và nâng cao thị giá cổ phiếu ngân hàng Việt Nam

Kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu mang lại nhiều hàm ý quản trị thiết thực cho hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Việc thấu hiểu các động lực định giá giúp ban lãnh đạo ngân hàng xây dựng chiến lược kinh doanh hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng quy mô và kiểm soát rủi ro an toàn vốn. Doanh nghiệp cần chủ động công bố thông tin minh bạch nhằm củng cố niềm tin của cộng đồng nhà đầu tư. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, các phát hiện thực nghiệm cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện khung khổ pháp lý giám sát thị trường tài chính. Việc kiểm soát chất lượng tài sản và tăng cường tính minh bạch của thị trường chứng khoán là điều kiện tiên quyết để thị giá cổ phiếu phản ánh đúng giá trị thực. Đối với nhà đầu tư, mô hình phân tích đóng vai trò công cụ định lượng hỗ trợ đưa ra quyết định mua bán cổ phiếu hợp lý, giảm thiểu rủi ro thua lỗ và gia tăng hiệu suất đầu tư danh mục.

4.1. Khuyến nghị quản trị cho các ngân hàng thương mại

Ban điều hành các ngân hàng cần ưu tiên nâng cao chất lượng tài sản và tối ưu hóa hệ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Việc đẩy mạnh kiểm soát nợ xấu thông qua quy trình thẩm định tín dụng chặt chẽ giúp bảo toàn nguồn vốn và gia tăng lợi nhuận sau thuế. Bên cạnh đó, ngân hàng nên duy trì chính sách cổ tức ổn định, cân đối giữa tái đầu tư mở rộng và chia cổ tức bằng tiền mặt để thỏa mãn kỳ vọng cổ đông. Nâng cao tính minh bạch qua áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế và quản trị rủi ro theo chuẩn mực tiên tiến sẽ tạo điểm tựa vững chắc nâng cao thị giá cổ phiếu dài hạn.

4.2. Khuyến nghị dành cho nhà đầu tư chứng khoán

Nhà đầu tư cá nhân và tổ chức cần kết hợp phân tích cơ bản với việc theo dõi sát sao chu kỳ kinh tế vĩ mô khi giao dịch cổ phiếu ngân hàng. Việc phân tích chuyên sâu các chỉ số tài chính như tăng trưởng tín dụng, biên lãi ròng và tỷ lệ bao phủ nợ xấu giúp nhận diện chính xác các mã cổ phiếu đang bị định giá thấp hơn giá trị thực. Nhà đầu tư nên tránh chạy theo tâm lý đám đông hoặc phản ứng thái quá trước những biến động giá ngắn hạn. Xây dựng chiến lược đầu tư giá trị trung và dài hạn sẽ mang lại tỷ suất lợi nhuận bền vững trên thị trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Luận văn các nhân tố ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 cũng tóm tắt chung về phương pháp nghiên cứu đó là định tính và định lượng. Cuối cùng, tác giả cũng đã nêu đóng góp của đề tài này cho các NHTMCP Việt Nam và định ra kết cấu của luận văn để tạo cơ sở trình bày cho các chương tiếp theo. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Lý thuyết về cổ phiếu 2.

Khái niệm cổ phiếu Tại các đơn vị kinh doanh đặc biệt là các doanh nghiệp đại chúng khi cần yêu cầu gọi vốn thì số vốn này nếu được chia thành những phần nhỏ như nhau thì được gọi là cổ phần. Những người mua cổ phần này được gọi là cổ đông, các cổ đông này được cấp giấy chứng nhận về sự sở hữu cổ phần thì đây được gọi là cổ phiếu. Hay nói cách khác chỉ các doanh nghiệp cổ phần mới được phát hành cổ phiếu. Do đó, cổ phiếu được xem chứng thư chứng minh quyền sở hữu công ty của cổ đông, hay quyền của cổ đông tại doanh nghiệp cổ phần được thể hiện thông qua cổ phiếu (Bạch Đức Hiền, 2008).

Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) cho rằng tại các doanh nghiệp cổ phần thì việc hình thành tổ chức này dựa trên sự góp vốn của nhiều thành phần trong nền kinh tế. Trong đó, vốn điều lệ của doanh nghiệp cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau và được gọi là cổ phần, các cá nhân hay tổ chức mua và sở hữu cổ phần đó được gọi là cổ đông. Quyền sở hữu và chứng nhận sự góp vốn này được đại diện thông qua giấy tờ có giá và gọi là cổ phiếu. Ngoài ra, cổ phiếu cũng được xem là loại hàng hóa đặc biệt của doanh nghiệp cổ phần có thể mua hay chào bán trên thị trường dựa trên quy luật cung và cầu.

Tóm lại, tại luận văn này với bối cảnh tại NHTM thì cổ phiếu của ngân hàng chính là loại giấy tờ có giá chứng mình cho quyền sở hữu cổ phần của các cổ đông tại các NHTM cổ phần, trong đó các tổ chức ngân hàng này có hoạt động phát hành chứng khoán kinh doanh để thu hút vốn. Cổ phiếu ngân hàng được các NHTM cổ phần phát hành ra thị trường và các cổ đông có thể mua hay chào bán trên thị trường chứng khoán tự do theo quy luật cung cầu. Phân loại các cổ phiếu 2. Theo tính lưu hành của cổ phiếu Theo Bạch Đức Hiển (2008) cho rằng các doanh nghiệp cổ phần phân biệt các loại 10 cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu phát hành, cổ phiếu quỹ và cổ phiếu đang lưu hành.

Cổ phiếu được phép lưu hành: Đối với doanh nghiệp cổ phần nói chung và các NHTM cổ phần nói riêng thì khi thành lập thì được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Theo quy định thì số cổ phiếu phát hành phải được các tổ chức kinh doanh ghi trong điều lệ, đây được gọi là số cổ phiếu được phép lưu hành hay cổ phiếu đăng ký. Với những trường hợp cần thay đổi số lượng cổ phiếu phát hành thì phải được đại đa số các cổ đông tán thành và tiến hành điều chỉnh điều lệ của tổ chức kinh doanh. Cổ phiếu phát hành: Đây là loại cổ phiếu mà doanh nghiệp cổ phần nói chung và các NHTM cổ phần nói riêng phát hành ra cho nhà đầu tư, với điều kiện là số lượng nhỏ hơn hoặc lớn nhất bằng số cổ phiếu được phép lưu hành.

Cổ phiếu quỹ: Đây là loại cổ phiếu mà doanh nghiệp cổ phần nói chung và các NHTM cổ phần nói riêng phát hành nhưng tập trung vào mục đích tổ chức muốn mua lại số cổ phiếu mà mình phát hành. Số lượng cổ phiếu này được tổ chức lưu giữ trong một khoảng thời gian, sau đó sẽ bán ra. Việc các tổ chức mua lại cổ phiếu của chính mình phải tuân theo các quy định của pháp luật. Đặc điểm của cổ phiếu quỹ không giống như các loại cổ phiếu đang lưu hành và không có vốn đằng sau nó, do đó nó không đại diện cho quyền lợi được chia cổ tức cho cổ phần và không tham gia bỏ phiếu trong các đại hội cổ đông.

Cổ phiếu đang lưu hành: Đây là loại cổ phiếu mà doanh nghiệp cổ phần nói chung và các NHTM cổ phần nói riêng đã phát hành và được các cổ đông nắm giữ. Số lượng này được xác định thông qua số lượng cổ phiếu đã phát hành trừ đi số lượng cổ phiếu quỹ. Theo quyền của cổ đông nắm giữ cổ phiếu Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) cho rằng cổ phiếu có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí như hình thức, lợi ích mang lại, người nắm giữ, đặc điểm phát hành,… Tuy nhiên, phân loại dựa trên quyền của cổ đông nắm giữ cổ phiếu là phổ 11 biến nhất gồm cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi: Cổ phiếu phổ thông: Đây là loại cổ phiếu mà doanh nghiệp cổ phần nói chung và các NHTM cổ phần nói riêng phát hành cho cổ đông đại chúng, người nắm giữ cổ phiếu này có quyền hưởng thu nhập phụ thuộc vào HĐKD của tổ chức. Cổ đông nắm giữ được xem là người sở hữu hợp pháp tổ chức, được quyền tham gia các cuộc hợp và biểu quyết cho những vấn đề quan trọng của tổ chức tại đại hội đồng cổ đông bất thường hay định kỳ.

Ngoài ra, cổ đông nắm giữ cổ phiếu này có quyền biểu quyết để bầu hay tự ứng cử vào ban giám đốc điều hành kinh doanh của tổ chức phát hành. Cổ phiếu ưu đãi: Đây là loại cổ phiếu mà doanh nghiệp cổ phần nói chung và các NHTM cổ phần nói riêng phát hành tương đối đặc biệt. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi được hưởng những quyền lợi nhất định về cổ tức, hoàn lại tiền,… nhưng cũng sẽ bị hạn chế một số quyền so với cổ phiếu phổ thông, ví dụ như quyền biểu quyết và thời gian chuyển nhượng,… 2. Giá cổ phiếu 2.

Mệnh giá của cổ phiếu Theo Nguyễn Minh Kiều (2011) thì mệnh giá của cổ phiếu là giá trị được ghi nhận trên bề mặt cổ phiếu. Mệnh giá được làm cơ sở để hạch toán cho doanh nghiệp cổ phần và thường ít có giá trị thực tiễn đối với các nhà hoạch định chiến lược, trong việc phân tích giá cổ phiếu hay căn cứ lựa chọn đầu tư cổ phiếu của các cổ đông. Theo điều 13, Luật chứng khoán (2019) thì mệnh giá của cổ phiếu được lưu hành trên thị trường Việt Nam thấp nhất là 10. Giá sổ sách của cổ phiếu Nguyễn Minh Kiều (2011) cho rằng giá trị sổ sách của cổ phiếu tại các doanh nghiệp cổ phần nói chung, kể các NHTM cổ phần phát hành cổ phiếu là mức giá xác định tình hình vốn cổ phần tại thời điểm xác định.

Ngoài ra, giá trị sổ sách của cổ phiếu thay đổi tăng hay giảm tùy thuộc vào số cổ phiếu thường phát hành hay đánh đổi giữa tài sản, tổng nợ hay cổ phiếu ưu đãi. Giá sổ sách được xác định thông qua giá trị lịch sử tồn tại của tài sản và nợ nhưng không thể phản ánh được giá trị hiện tại 12 của cổ phiếu: 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 − 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ − 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 ư𝑢 đã𝑖 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ổ 𝑠á𝑐ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 = 𝑆ố 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 𝑡ℎườ𝑛𝑔 đ𝑎𝑛𝑔 𝑙ư𝑢 ℎà𝑛ℎ Nguồn: Nguyễn Minh Kiều (2011) Tại các doanh nghiệp hay NHTM cổ phần thì cổ phiếu ưu đãi có thể phát hành hoặc không cần. Nhưng nếu có tồn tại thì giá trị của nó được xác định bằng mệnh giá hay giá mua của cổ đông, ngoài ra tùy vào hình thức của cổ phiếu ưu đãi để cộng thêm phần cổ tức chưa trả vào kỳ trước đó. Giá nội tại của cổ phiếu Nguyễn Minh Kiều (2011) cho rằng giá nội tại của cổ phiếu là giá trị bên trong của nó và không chịu sự ảnh hưởng của các khía cạnh bên ngoài của doanh nghiệp phát hành.

Khi xem xét giá trị nội tại của cổ phiếu thì giả định đặt ra là cổ phiếu được nắm giữ vĩnh viễn và dựa trên mô hình chiết khấu về hiện tại dòng tiền hay dòng cổ thức. Dòng ngân lưu của cổ phiếu được xem là các khoản cổ tức hay số tiền mà cổ phiếu có thể thu về tại tương lai. Giá trị nội tại của cổ phiếu là tiêu chí để các doanh nghiệp cổ phần xem xét khi xuất hiện việc mua bán, sát nhập, chia tách hoặc hợp nhất,… Mặt khác, Nguyễn Minh Kiều (2011) còn cho rằng giá trị nội tại được tính toán dựa trên những tín hiệu giao dịch nhất định và có thể khác với giá thị trường. Nếu giá thị trường cao hơn giá trị nội tại của cổ phiếu thì nó đang được định giá cao, ngược lại nó đang được định giá thấp.

Giá nội tại của cổ phiếu được tính dựa trên các mô hình chiết khấu cơ bản sau: Mô hình chiết khấu cổ tức: Dựa trên cổ tức được trả mỗi năm và chiết khấu về hiện tại với tỷ lệ sinh lời yêu cầu. Mô hình chiết khấu dòng tiền: Dựa trên khoản tiền phát sinh trong tương lai và chiết khấu về hiện tại với tỷ lệ sinh lời yêu cầu. Mô hình định giá theo P/E: Dựa trên việc so sánh các giá trị tương đối của tổ chức, đặc biệt là các cơ hội tăng trưởng trong tương lai. Với phương pháp này thì tỷ lệ giá cổ phiếu và cổ tức được trả sẽ dùng đến, tỷ số này thường được áp dụng cho các 13 quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển.

Giá trị thị trường của cổ phiếu Mankiw (2010) cho rằng giá cổ phiếu tại các doanh nghiệp cổ phần được mô tả với giá trị thị trường của nó hay được xem là giá bán của một cổ phần, nó được xem là công cụ tài chính phái sinh hay tài sản tài chính. Giá thị trường bị ảnh hưởng bởi các khía cạnh bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp như biến động thị trường, kinh tế, chính trị. Mặt khác, thị trường chứng khoán là môi trường phản ánh về kỳ vọng các điều kiện kinh tế trong tương lai, vì tại thị trường này các nhà đầu tư có thể mua đầu tư các cổ phiếu với mức giá cao vì tin tưởng rằng doanh nghiệp đó kinh doanh có lãi. Nguyễn Minh Kiều (2011) cho rằng giá thị trường của cổ phiếu là mức giá cả được xác định vào một thời điểm nhất định.

Nó chịu ảnh hưởng vào tín hiệu cung cầu trên TTCK, giá thị trường có thể thấp hay cao hơn giá trị nội tại của nó hoặc giá trị được định giá vào thời điểm nó được mua hay bán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ