MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI Trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, giáo dục Tiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng, vì nó liên quan trực tiếp đến khoảng 50% tổng số học sinh, sinh viên trong cả nước, từ bậc Mầm non đến Đại học. Đây là bậc học đầu tiên dạy cho trẻ những kiến thức ban đầu, cơ bản, giúp trẻ hình thành nhân cách. Có thể xem Tiểu học là bậc đào tạo chính để cung cấp nền giáo dục cơ bản mà trẻ em có quyển được hưởng.
Những việc làm được ở bậc học này sẽ tạo ra hiệu quả rõ rệt (hơn bất cứ ngành học, cấp học nào) cho toàn xã hội, vì nó liên quan đến từng gia đình. Do đó, giáo dục Tiểu học là nền tảng văn hóa căn bản nhất, là trình độ tối thiểu cần phải có, để một quốc gia có thể hòa nhập với cộng đồng thế giới trong bối cảnh chung của nền văn minh hiện đại. Chính vì thế, các nước trên thế giới đều đặc biệt quan tâm đến giáo dục Tiểu học. Những nước phát triển đã hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học từ đầu hoặc giữa thế kỷ XX như Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc.
Một số nước khác về cơ bản đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục Tiểu học như Philippin, Inđônêxia. Năm 1991, ở nước ta, Luật phổ cập giáo dục Tiểu học được ban hành. Trong suốt lo năm thực hiện Luật phổ cập giáo dục Tiểu học, ngày 28 tháng 12 năm 2000 nước ta đã cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học. Để giữ vững kết quả đã đạt được về phổ cập giáo dục Tiểu học, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở Tiểu học, chuẩn bị cho bước phát triển mới của bậc Tiểu học sau năm 2000, theo định hướng chiến lược phát triển giáo dục được Đảng hoạch định trong Nghị quyết Trung ương n, cùng với việc xây dựng trường Tiểu học theo chuẩn quốc gia, là việc thực hiện phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi.
Đây là chủ trương lớn nhằm xây dựng nhà trường Tiểu học theo hướng chuẩn hóa, tạo điều kiện để có bậc học bền vững, phát triển lành mạnh với đúng nghĩa là bậc học nền tảng. Trà Vinh là một trong những tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có đông đồng bào dân tộc Khmer, chiếm tỷ lệ 30% dân số trong toàn tỉnh. Thực hiện Luật phổ cập giáo dục 10 Tiểu học trong nhiều năm qua, với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và sự phấn đấu của ngành Giáo dục & Đào tạo, tháng 12/1998 tỉnh Trà Vinh đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về công tác phổ cập giáo dục Tiểu học - Xóa mù chữ và tiếp tục đạt chuẩn trong những năm tiếp theo 1999, 2000, 2001. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê vào cuối năm 2001, toàn tỉnh có 9.270 trẻ trong độ tuổi 6 đến 14 tuổi chưa đi học hoặc bỏ học ở Tiểu học (trong đó có 3.999 trẻ dân tộc).
Huy động được 96,6% trẻ ở độ tuổi 6 tuổi vào lớp 1, và có 43,2% trẻ ở độ tuổi 11 tốt nghiệp Tiểu học. Riêng đối với vùng dân tộc Khmer có 6.335 trẻ trong độ tuổi 6-14 tuổi chưa đi học hoặc bỏ học (trong đó có 3.528 trẻ dân tộc), tỷ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 là 96,5%, và trẻ ở độ tuổi 11 tốt nghiệp Tiểu học là 37,9%. Như vậy, về nhiệm vụ phổ cập giáo dục Tiểu học mặc dù đã được công nhận đạt chuẩn, nhưng tỉnh vẫn phải tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, nhất là đối với vùng dân tộc Khmer để hạn chế trẻ em Khmer thất học, bỏ học, góp phần nâng cao dân trí, làm cơ sở cho việc thực hiện ngày càng đầy đủ quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Thời gian qua, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về công tác phổ cập giáo dục Tiểu học ở các cấp, nhằm mục đích đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục Tiểu học.
Nhưng phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi là chủ trương tương đối mới, chỉ được Bộ Giáo dục-Đào tạo chỉ đạo từ tháng 6/1999, đặc biệt là phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi vùng dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh thì chưa có công trình nghiên cứu nào. Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu :"Các biện pháp quản lý phổ cập giáo dục Tiếu học đúng độ tuổi vùng dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh" nhằm thực hiện có hiệu quả chỉ thị 68 -CT/TW của Ban Bí thư Trung ương (khóa VI) "về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer", góp phần nâng cao vai trò cộng đồng người Khmer đối với sự ổn định và phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi vùng dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh, để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục Tiểu học đối với vùng dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3.
Khách thể Hoạt động phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi vùng dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh. Đối tượng Các biện pháp quản lý công tác phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi vùng dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng, đặc biệt là biện pháp quản lý phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi trong vùng dân tộc Khmer của tỉnh Trà Vinh, bao gồm các huyện Cầu Kè, Trà Cú, Tiểu Cần, Châu Thành và Cầu Ngang, địa phương có người dân tộc Khmer chiếm từ 30% đến 69% dân số. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Nếu xác định được các biện pháp quản lý phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và tổ chức thực hiện các biện pháp một cách đồng bộ, thống nhất thì hiệu quả công tác phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi vùng dân tộc Khmer sẽ được nâng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Trà Vinh.
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 6. Xác lập cơ sở lý luận về phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và quản lý phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi. Tìm hiểu thực trạng phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và quản lý phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi vùng dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh. Đề xuất các biện pháp quản lý phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi có hiệu quả hơn ở vùng dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7.Phương pháp nghiên cứu lý luận : Sử dụng phương pháp thu thập các tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến và xử lý số liệu: Phiếu trưng cầu ý kiến được xây dựng dựa trên sự tham khảo những đề tài có liên quan đã nghiên cứu trước đây, cũng như dựa vào cơ sở lý luận, mục đích, nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu. Gặp gỡ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh để thực hiện phiếu trưng cầu ý kiến. Tiến hành phân loại, xử lý số liệu, thống kê tần số, tính phần trăm (%) và nhận xét từng vấn đề.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá kết quả.
- Tổng kết các số liệu có liên quan : Kết quả phổ cập giáo dục Tiểu học, tình hình phát triển giáo dục Tiểu học, số lưu ban, bỏ học, hiệu quả đào tạo bậc Tiểu học, giảng dạy chữ dân tộc. trong từng năm học, tính tỷ lệ và nhận xét kết quả thực hiện. Phương pháp thống kê. - Dùng phương pháp toán thống kê để phân tích và xử lý các số liệu điều tra.
- Thống kê các kết quả của bảng trưng cầu ý kiến. - Thống kê tần số, tính tỷ lệ phần trăm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC ĐÚNG ĐỘ TUỔI VÀ QUẢN LÝ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC ĐÚNG ĐỘ TUỔI 1. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, Đảng ta chủ trương từng bước thực hiện công bằng xã hội.
Bước đầu tiên của việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục chính là làm cho đại bộ phận những người lao động trẻ đều biết chữ và hầu hết trẻ em trong độ tuổi đều học xong bậc tiểu học, không phân biệt giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo, bất kể ở thành phố hay nông thôn, miền xuôi hay miền núi. Đặc biệt phải quan tâm đến các gia đình chính sách, các vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến. Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) đã xác định phổ cập giáo dục Tiểu học là một mục tiếu quan trọng. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo phổ cập giáo dục Tiểu học qua những thời kỳ khác nhau với những chỉ tiêu phấn đấu khác nhau.
Năm 1973 chủ trương thực hiện phổ cập giáo dục Tiểu học với chỉ tiêu 80% trẻ em học hết Tiểu học ở độ tuổi 11. Năm 1983 với chỉ thị 06/CT ngày 22/3/1983 xác định mục tiêu phổ cập giáo dục Tiểu học cho trẻ em từ 6 đến 15 tuổi với hai mức độ khác nhau cho hai địa bàn, vùng giáo dục phát triển và vùng giáo dục chậm phát triển. Năm 1987, phương hướng nhiệm vụ phát triển giáo dục 3 năm 1987-1990 về phổ cập giáo dục Tiểu học cho trẻ em từ 6 tuổi đến 15 tuổi đã xác định : Vùng giáo dục phát triển đến năm 1990 cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học (70% số trẻ em ở độ tuổi 6 đến 15 tuổi hoàn thành chương trình cấp 1 cải cách giáo dục, 20% trẻ hoàn thành chương trình tối thiểu), vùng giáo dục chậm phát triển (vùng cao phía Bắc, vùng xa xôi hẻo lánh ở Tây Nguyên, vùng sâu đồng bằng sông Cửu Long) sẽ hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học trong các kỳ kế hoạch sau. 14 Tháng 9/1989, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành quyết định số 173/HĐBT, thành lập Ủy ban quốc gia chống nạn mù chữ.
Ủy ban quốc gia chống nạn mù chữ có trách nhiệm giúp Chính phủ tổ chức "Năm quốc tế chống nạn mù chữ - 1989" và tham mưu cho Chính phủ về các chương trình và dự án nhầm thực hiện phổ cập giáo dục Tiểu học và xóa mù chữ trong thời kỳ 1990-2000. Ngày 02/01/1990 Hội đồng Bộ trưởng đã ra chỉ thị số 01/CT về công tác xóa nạn mù chữ.