Chương 1: Tổng quan lý thuyết về pháp luật bảo vệ NGT tại các ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi NGT tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ NGT tại ngân hàng 6 thương mại ở Việt Nam. NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI BẰNG PHÁP LUẬT 1.
Khái quát về người gửi tiền tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Căn cứ khoản 3 điều 4 luật các TCTD năm 2010: “Ngân hàng thương mại là là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Ngân hàng thương mại5 là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Khái niệm về Người gửi tiền Tại khoản 2 điều 6 của văn bản số 14 của ngân hàng Nhà nước ngày 21/05/2014 về việc ban hành quy chế tiền gửi tiết kiệm quy định: “NGT là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. NGT có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm.” Khái niệm này chỉ mới đề cập chung chung về NGT tiết kiệm, chưa cụ thể các đối tượng thuộc đối tượng là NGT tiết kiệm.
Theo thông tư số 48 của ngân hàng Nhà nước, ngày 31/12/2018 về việc Ban hành Quy định về tiền gửi tiết kiệm có hiệu lực từ ngày 01/07/2019, thì khái niệm về NGT có thay đổi, cụ thể tại Điều 3 của Thông tư 48: “1. Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật. Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị hạn chế 5 Xem khoản 3, điều 4 Luật các TCTD số 47/2010 8 năng lực hành vi dân sự hoặc không mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Công dân Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật hoặc chưa đủ 15 tuổi thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật; Công dân Việt Nam có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm thông qua người giám hộ.” Người gửi tiền là khách hàng có mở một tài khoản tiền gửi và gửi tiền vào tài khoản được mở đó tại TCTD (cụ thể tại NHTM) dưới một hình thức lựa chọn loại hình gửi tiết kiệm nhất định theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích, yêu cầu của khách hàng và NHTM.
Người gửi tiền được hiểu thông thường là người có một khoản tiền gửi vào tài khoản của họ tại NHTM. Tiền gửi có ý nghĩa to lớn đối với NGT và các ngân hàng thương mại. Đối với người gửi tiền, ý nghĩa tiền gửi phụ thuộc vào mục đích gửi của họ. Có thể dễ dàng nhận ra hai trường hợp mà khách hàng gửi tiền là khi khách hàng hưởng lợi ích từ các công cụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho họ hoặc là khách hàng gửi tiền vào để hưởng lợi như gửi vào tài khoản tiết kiệm hoặc tài khoản định kỳ.
Còn đối với NHTM thì việc bảo vệ người gửi tiền còn có ý nghĩa duy trì sự hoạt động và phát triển của cả đơn vị, vì đó kênh huy động nguồn vốn quan trọng, bảo vệ cho hoạt động tài chính của các NHTM. Phân loại người gửi tiền tại ngân hàng thương mại Người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, cụ thể tại Ngân hàng thương mại có thể là cá nhân hoặc tổ chức kinh tế. Mục đích của người gửi tiền tại NHTM rất khác nhau và phụ thuộc vào nhu cầu mục đích gửi tiết kiệm của từng đối tượng khách hàng gửi. - Đối với chủ thể gửi tiền là cá nhân Đối với chủ thể gửi tiền là cá nhân, nguồn tiền gửi chủ yếu là nguồn tiền tích góp được từ quá trình lao động, sản xuất, kinh doanh và chưa có mục đích sử dụng, đầu tư.
Họ muốn sử dụng số tiền nhàn rỗi này gửi vào Ngân hàng thương mại nhằm mục đích an toàn và để hưởng lãi suất để tăng lên phần thu nhập. 9 - Đối với chủ thể gửi tiền là tổ chức kinh tế Đối với chủ thể tiền gửi là tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh); Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã, các tổ chức kinh tế theo luật đầu tư. Đối tượng khách hàng này phần đông là các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán từ các Ngân hàng, họ mở tài khoản tại ngân hàng để trả lương cho nhân viên, thanh toán tiền hàng cho đối tác, thanh toán L/C. Ngoài ra thì các doanh nghiệp gửi tiền tại ngân hàng thương mại nhằm mục đích giảm bớt nhân sự cho việc thu chi tiền mặt, họ ủy quyền cho ngân hàng đi thu, chi hộ và số tiền đó sẽ gửi tại ngân hàng được ủy quyền.
Cũng có các tổ chức gửi tiền cũng vì mục đích lấy tiền lãi làm tăng thêm lợi nhuận, thu nhập cho các thành viên tại tổ chức doanh nghiệp đó. Các hình thức tiền gửi tiết kiệm Theo điều 6 thông tư 48 của Ngân hàng Nhà nước ngày 31/12/2018, hình thức tiền gửi tiết kiệm phân loại như: 1. Hình thức tiền gửi tiết kiệm phân loại theo: a) Thời hạn gửi tiền bao gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Thời hạn gửi tiền cụ thể do tổ chức tín dụng xác định; b) Tiêu chí khác do tổ chức tín dụng xác định.
Tổ chức tín dụng quy định cụ thể về từng hình thức tiền gửi tiết kiệm phù hợp với quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan, đảm bảo an toàn tài sản cho người gửi tiền và an toàn hoạt động cho tổ chức tín dụng. Quy định về hình thức tiền gửi tiết kiệm phải có tối thiểu các nội dung về phương thức trả lãi, phương pháp tính lãi, kéo dài thời hạn gửi tiền, rút trước hạn tiền gửi tiết kiệm, các trường hợp người gửi tiền phải thông báo trước việc rút trước hạn tiền gửi tiết kiệm. Như vậy hình thức tiền gửi tiết kiệm hiện nay tại ngân hàng thương mại có hai hình thức là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Người gửi tiền có thể lựa chọn hình thức tiền gửi tiết kiệm để gửi theo nhu cầu của mình.
Các loại sản phẩm tiền gửi a. Tiền gửi thanh toán 10 Là khoản tiền gửi của khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán gửi tại ngân hàng thương mại với mục đích giữ tiền hoặc thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán. Tiền gửi có kỳ hạn Là khoản tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức (không bao gồm tổ chức tín dụng) hoặc cá nhân gửi tại ngân hàng thương mại. Tiền gửi có kỳ hạn được xác nhận dưới hình thức hợp đồng tiền gửi hoặc sao kê tiền gửi hoặc các hình thức xác nhận thông qua các phương tiện điện tử, được hưởng lãi theo quy định của ngân hàng thương mại nơi gửi.
Tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, tiền gửi của tổ chức không được bảo hiểm. Tiền gửi tiết kiệm Là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiết kiệm, được xác định trên sổ tiết kiệm, được hưởng lãi suất theo quy định của ngân hàng thương mại nơi nhận tiền gửi và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm: - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo nhu cầu vào bất kỳ ngày làm việc nào của ngân hàng thương mại nơi nhận gửi (hình thức này áp dụng nhiều qua việc nhận lương qua tài khoản thẻ ATM được mở tại ngân hàng thương mại nơi cá nhân hoặc tổ chức chọn để được nhận lương hoặc chi lương). - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, là tiền gửi tiết kiệm trong đó người gửi tiền có thể thỏa thuận với ngân hàng thương mại nơi nhận gửi tiền về kỳ hạn gửi nhất định.
Giấy tờ có giá: Là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa ngân hàng thương mại với các tổ chức (không bao gồm tổ chức tín dụng), cá nhân mua giấy tờ có giá trong một thời hạn, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác nhất định (Thường là phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu,…). Trên đây là liệt kê các loại hình thức tiền gửi tại hệ thống các NHTM, tuy nhiên tại bài viết này, tác giả chỉ tập trung vào tiền gửi tiết kiệm.2 Bảo vệ người gửi tiền tại ngân hàng thương mại bằng pháp luật 1. Pháp luật về bảo vệ người gửi tiền Pháp luật là một loại quy phạm xã hội với các đặc tính như phổ biến, chặt chẽ và được đảm bảo bởi Nhà nước. Điểm khác biệt của pháp luật so với các quy phạm xã hội khác là pháp luật có tính thực thi cao nhờ vào những thuộc tính rõ ràng.
Pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước. Mối quan hệ giữa NGT và NHTM dựa trên nguyên tắc tự do, thỏa thuận và bình đẳng. Tuy nhiên, do thiếu thông tin hoặc hạn chế của pháp luật bảo vệ người gửi tiền, dẫn đến quyền lợi của NGT không được bảo vệ một cách chính đáng. Chính vì thế, cần phải có pháp luật bảo vệ NGT tại các NHTM.
Trên thế giới, pháp luật bảo vệ NGT được tiếp cận theo hai cách là quy định trách nhiệm pháp lý của các bên trước và sau khi xảy ra vi phạm.