Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG 1. KHÁI NIỆM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG 1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp 1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh hoạt động sáng tạo của con người là một trong những nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Đặc biệt, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm trí tuệ con người đối với sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hoá, xã hội đã được nhận thức tương đối thống nhất trong phạm vi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Hoạt động sáng tạo của con người tuy mang tính chất vô hình nhưng lại chứa đựng giá trị vật chất, tinh thần vô cùng to lớn; sản phẩm của hoạt động đó được thừa nhận là tài sản trí tuệ. Chế định sở hữu các tài sản trí tuệ được gọi là sở hữu trí tuệ (SHTT) và quyền SHTT là một trong những quyền không thể thiếu của con người, đòi hỏi phải có sự bảo hộ từ phía Nhà nước và cộng đồng quốc tế. Theo Điều 2 Công ước Stockholm 1967 về việc thành lập Tổ chức SHTT thế giới (WIPO), SHTT bao gồm các quyền liên quan tới: 1.
Các sản phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; 2. Sự trình diễn của các nghệ sĩ, các chương trình phát và truyền thanh, phát và truyền hình; 3. Các sáng chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người; 4. Các phát minh khoa học; 6 5.
Kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn thương mại; 6. Chống cạnh tranh không lành mạnh; 7. Các quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật. Trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, khái niệm quyền SHTT được qui định tại Điều 3 khoản 2 chương 2, theo đó: Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, thiết kế bố trí (topography) mạch tích hợp, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hoá, thông tin bí mật (bí mật thương mại), kiểu dáng công nghiệp và quyền đối với giống thực vật [17].
Như vậy, có thể hiểu quyền SHTT bao gồm quyền tác giả, quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng. Quyền tác giả đề cập đến quyền của người sáng tạo trí tuệ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học. Quyền tác giả bảo hộ chủ sở hữu quyền đối với những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học… nhằm chống lại việc sao chép, sử dụng hình thức của tác phẩm nguyên gốc đã được bảo hộ. Các đối tượng có thể được bảo hộ quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, âm nhạc, tạo hình, phát thanh, truyền hình… Quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng sáng tạo chứ không bảo hộ nội dung các ý tưởng đó.
Quyền SHCN đề cập đến người sáng tạo trí tuệ liên quan đến các đối tượng thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ và thương mại, bao gồm: Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý… Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thuật ngữ "sở hữu trí tuệ" và "quyền sở hữu trí tuệ" chính thức được sử dụng lần đầu tiên trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995. Mặc dù không được định nghĩa trực tiếp song cấu trúc 7 và nội dung phần thứ sáu BLDS có thể cho chúng ta hiểu về quyền SHTT như sau: Quyền SHTT là một chế định pháp lý gồm quyền tác giả và quyền SHCN được pháp luật qui định và bảo hộ. Đó là một loại hình quyền sở hữu đặc biệt mà đối tượng là các sản phẩm sáng tạo do lao động trí óc con người tạo ra, là sản phẩm trí tuệ con người. BLDS 2005 đã bổ sung thêm đối tượng của quyền SHTT là quyền đối với giống cây trồng.
Luật SHTT năm 2005 đã đưa ra khái niệm: "Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng" (Khoản 1, Điều 4) Như vậy, quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với những tài sản trí tuệ do con người sáng tạo. Đó là độc quyền được trao cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức để khai thác, sử dụng, định đoạt những sản phẩm của hoạt động sáng tạo trí tuệ. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp Trên thế giới, pháp luật về SHTT đã manh nha hình thành vào thời kỳ Trung cổ ở các nước Châu Âu. Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp (SHCN), cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đã xuất hiện một hình thức "đặc ân" do vua chúa ban cho nhà sáng chế nhằm khuyến khích tạo ra sáng chế mới.
Người tạo ra sáng chế được độc quyền khai thác chính sáng chế do mình tạo ra trong một thời hạn nhất định. Đây chính là tiền thân của hệ thống bảo hộ sáng chế ở Châu Âu trước đây. Đến cuối thế kỷ 16 hình thức này trở nên không còn phù hợp. Năm 1623, Nghị viện Anh thông qua đạo luật về độc quyền theo đó mọi hình thức độc quyền bị xoá bỏ trừ độc quyền sáng chế.
Hình thức bảo hộ của Nhà nước đối với sáng chế được thực hiện thông qua việc cấp văn bằng độc quyền sáng chế. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên khởi đầu cho hệ thống văn bằng sáng chế của Anh và các nước Âu - Mỹ khác. 8 Luật nhãn hiệu hàng hoá đầu tiên trên thế giới được ban hành tại Pháp năm 1857. Theo luật này, quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa thuộc về người thực hiện sớm nhất một trong hai việc: (1) sử dụng nhãn hiệu; (2) đăng ký nhãn hiệu theo qui định của pháp luật.
Nếu một người đăng ký một nhãn hiệu nhưng thời điểm sử dụng nhãn hiệu hàng hóa của người đó lại sau người thứ hai thì quyền đối với nhãn hiệu thuộc về người thứ hai.Về sau, các nước khác cũng ban hành Luật nhãn hiệu hàng hoá: Italia (1868), Bỉ (1879), Mỹ (1881), Anh (1883), Đức (1894), Nga (1896). trong đó qui định việc xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu hàng hoá thông qua thủ tục đăng ký bảo hộ tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá [20]. Hiện nay, các đối tượng sở hữu công nghiệp bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật kinh doanh. Theo Điều 1 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp được ký kết ngày 20/3/1883 và được sửa đổi vào năm 1967 thì Công ước không trực tiếp đưa ra định nghĩa cụ thể về quyền SHCN mà chỉ qui định về các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ bao gồm: "Sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh".
Sau hơn một thế kỷ, cho đến nay danh sách các đối tượng sở hữu công nghiệp đó được bổ sung thêm một số đối tượng mới, đó là: - Bí mật kinh doanh; - Thiết kế bố trí mạch tích hợp. Công ước Paris đã xác định rõ cách hiểu về SHCN, theo đó SHCN được hiểu theo cách rộng nhất, cho tất cả các ngành sản xuất công nghiệp, thương mại, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản 9 phẩm chế biến và sản phẩm tự nhiên như rượu vang, ngũ cốc, thuốc lá, hoa quả, nước khoáng, bia và bọt. Theo Điều 780 của BLDS Việt Nam năm 1995 thì quyền SHCN là "quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, quyền sử dụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hoá và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định. Ngoài việc liệt kê các đối tượng SHCN cụ thể tại Điều 780, BLDS Việt Nam năm 1995 còn qui định quyền SHCN đối với các "đối tượng khác".
Định nghĩa này có yếu tố mở để dần dần cập nhật những đối tượng khác sẽ được bảo hộ với tư cách là đối tượng của quyền SHCN trong tương lai. Cho đến nay, pháp luật Việt Nam bảo vệ thêm các đối tượng SHCN sau: bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN, thiết kế bố trí mạch tích hợp và được ghi nhận tại một luật riêng - Luật SHTT năm 2005. Điều 4 khoản 4 của Luật SHTT đưa ra khái niệm "Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh". Đặc điểm quyền sở hữu công nghiệp Quyền SHCN là một loại quyền tài sản, do đó nó có đầy đủ đặc tính của quyền tài sản nói chung đó là: chủ sở hữu có toàn quyền đối với tài sản của mình và không ai được sử dụng tài sản đó nếu không được sự cho phép của chủ sở hữu.
Bên cạnh đó, xuất phát từ tính chất đặc thù của các đối tượng SHCN - tài sản trí tuệ, quyền SHCN có những đặc điểm riêng để phân biệt với quyền sở hữu khác, thậm chí với cả quyền tác giả. Thứ nhất, tính vô hình của đối tượng SHCN Cũng giống như quyền tác giả, đối tượng quyền SHCN mang đặc trưng của đối tượng quyền SHTT đó là đặc tính vô hình. Đặc tính này hoàn 10 toàn khác với đặc tính hữu hình của sở hữu tài sản vật chất. Là sản phẩm của sáng tạo trí tuệ, mang tính vô hình nên đối tượng của quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng phải được vật chất hóa hoặc được thể hiện trên các vật mang tin cụ thể.
Nói cách khác, tài sản SHTT vô hình phải được phản ánh, thể hiện thông qua những vật thể hữu hình. Một vật thể hữu hình có thể vừa là đối tượng của quyền sở hữu tài sản vật chất lại vừa chứa đựng trong nó đối tượng của quyền SHTT. Đặc tính vô hình của SHTT là đặc trưng quan trọng nhất.