CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Lý do lựa chọn đề tài Hướng đến phát triển kinh tế bền vững, các ngân hàng và định chế tài chính lớn nhất thế giới đều chấp thuận và theo đuôi các “Nguyên tắc xích đạo” (Equator Principles) (http://www.com), theo d6 cac ngan hang va dinh chế tài chính cần thẩm định về quản tri cong ty (Corporate Governance - CG) va trach nhiém x4 hdi céng ty (Corporate Social Responsibility - CSR) déi véi các đối tác tiềm năng trước khi nhận chấp nhận tài trợ tín dụng của họ. Các định chế tài chính cũng cần thâm định các dự án đầu tư theo các nguyên tắc ESG (Environment — Social — Governance — ESG) của PRI (Principles for Responsible Investment — PRI) (hfps://www. ESG là các nguyên tắc về “môi trường”, “xã hội” và “quản trị”.
Nói khác đi, các doanh nghiệp, để có thể trở thành khách hàng của các định chế tài chính cần phải thực hiện CG và CSR ở mức độ nhất định. Luận văn này nghiên cứu về chính sách và thực hành CG và CSR của các doanh nghiệp với tư cách là khách hàng tiềm năng của các ngân hàng và định chế tài chính, trong đó xem xét ảnh hưởng của chính sách và thực hành CG đối với chính sách và thực hành trách nhiệm xã hội. Mặt khác, khái niệm các bên liên quan (stakeholder) được hình thành từ năm 1992 (Hill va Jones, 1992) da dugc su dụng rộng rãi trong kinh tế và quản trị. Trong CSR, doanh nghiệp có trách nhiệm với các bên liên quan khác nhau như người lao động, cộng đồng, môi trường, nhà nước, khách hàng, nhà cung cấp, các nhóm lợi ích khác,.
Trong Quản trị công ty (CG), bộ phận quản lý, bao gồm hội đồng quản trị và ban giám đốc, có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu các bên liên quan như cổ đông, chủ nợ, nhà nước,. CSR quan tâm đến trách nhiệm kinh tế, xã hội và môi trường trong khi CG quan tâm đến trách nhiệm tài chính, trách nhiệm thông tin và trách nhiệm giải trình của nhóm quản lý đối với chủ doanh nghiệp. Rõ ràng giữa CSR và CG có một số nội dung giao thoa với nhau, có một số quan hệ đan xen, giữa CSR và CG có tác dộng qua lại với nhau. Luận văn này chỉ xem xét quan hệ tác động một chiều từ CG đến CSR.
Do vậy câu hỏi nghiên cứu của luận văn là: CG và các thành phần của CG có ảnh hưởng như thế nào đến CSR và các thành phần của CSR? 1. Mục tiêu nghiên cứu: Luận văn này xác định mối quan hệ CG — CSR, nhất là ảnh hưởng của chính sách và thực hành quản trị công ty đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Quan hệ giữa CG và CSR có thể là quan hệ hai chiều, để trách tác động ngược từ CSR — CG luận văn sẽ khảo sát thêm quan hệ CG — CSR lệch thời gian một năm,nghĩa là xem xét CG của năm t-1 ảnh hưởng như thế nào đến CSR năm t Trên cơ sở đó, mục tiêu nghiên cứu của luận văn: w_ Quản trị công ty có mối quan hệ như thế nào với trách nhiệm xã hội trong cùng thời điểm; Y Quan tri công ty hiện nay ảnh hưởng như thế nào đến trách nhiệm xã hội trong tương lai. Đối tượng nghiên cứu Ảnh hưởng của chính sách và thực hành quản trị công ty đến thực hành trách nhiệm xã hội công ty của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán TP.
Hồ Chí Minh 1. Phạm vi nghiên cứu * Các công ty niêm yết tại HOSE có thực hành CSR và CG theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán nhà nước, nhất là các công ty có xuất bản các báo cáo phát triển bền vững, báo cáo quản trị công ty hoặc có những nội dung đó trong báo cáo thường niên. Số lượng công ty thỏa mãn tiêu chí này là 68 công ty. Khoảng thời gian: 3 năm 2013-2015.
Phương pháp nghiên cứu Vì các khái niệm quản trị công ty và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không phải là các các khái niệm có thé dé dàng định lượng nên luận văn tìm kiếm các chỉ số đại điện cho CG và CSR và gọi là chỉ số CG và chỉ số CSR. Đề tài dự kiến sử dụng chỉ số quản trị công ty (Corporate governance Index - CGI) được xây dựng bởi OECD (2004), còn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate social responsibility - CSR) được đo lường theo phương pháp của Amran (2015) và hướng dẫn của GRI phiên bản 4 - GRI4. Luận văn sẽ sử dụng phương pháp phân tích nội dung để phân tích các báo cáo phát triển bền, báo cáo quản trị công ty,.website của các công ty, từ đó lượng hoá thành các chỉ số CGI và CSRI. Các thông tin về CG và CSR trong các báo cáo có thê là chính sách (sẽ thực thi trong năm) cũng có thé là thực hành (hoạt động đã thực hiện nên các chỉ số) cũng phản ánh cả hai phương diện chính sách và hực hành của các công ty liên quan CHUONG 2: CO SO LY THUYET VA TONG QUAN NGHIEN CUU 2.
Trách nhiệm xã hội doanh nghiép (Corporate social responsibility - CSR) Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR. Mỗi doanh nghiệp, tổ chức chính phủ nhìn nhận CSR dưới những góc độ riêng và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình. Keith Davis (1973) đưa ra một khái niệm khá rộng: “CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”. Trong khi đó, Caroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn “là tắt cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi trong mỗi thời điểm nhất định”.
Theo Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”. Theo Ủy ban Kinh tế Thế giới về phát triển bền vững: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp nhằm đóng góp cho phát triển kinh tế bền vững thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và cho toàn xã hội theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát trién chung của xã hội”. CSR được định nghĩa là "sự tích hợp tự nguyện các vấn đề xã hội và môi trường vào hoạt động kinh doanh và sự tương tác của các công ty với các bên liên quan" (Ủy ban Châu Âu, 2002).
Như vậy, CSR theo thời gian đã mở rộng đối tượng ảnh hưởng của mình ra nhiều doanh nghiệp và tổ chức liên quan. Các doanh nghiệp đó phải quan tâm tới việc các hoạt động của mình có ảnh hưởng như thế nào tới các vấn đề xã hội xung quanh như với cộng đồng (quyền con người, các vấn đề về lao động.), bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, sau rất nhiều định nghĩa về CSR thì khái niệm của Ủy ban Kinh tế Thế giới về phát triển bền vững cho thấy rõ hơn bản chất của CSR. Do đó, nghiên cứu thống nhất với khái niệm của Ủy ban Kinh tế Thế giới về phát triển bền vững.
Mặc dù hiện nay CSR là một vấn đề tương đối phô biến. Song, trên thực tế, còn có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nội dung và phạm vi của CSR, dưới đây là một số cách tiếp cận phổ biến: Tiếp cận theo mô hình “Kim tự tháp” của A. Carroll (1999) Mô hình này có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất. Mô hình “Kim tự tháp” của A.
Carroll thể hiện rõ nhất và bao quát nhất các lĩnh vực quan tâm của CSR. Trách nhiệm vé tử thiện. _ Trách nhiệm về đạo đức Trách nhiệm về pháp lý Trách nhiệm vé kinh tế Hình 2.1: Mô hình “kim tự tháp TNXH (Nguồn: Carroll Archie, 1999) Theo mô hình trên, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện. Ranh giới giữa các tầng trong “Kim tự tháp” là không rõ ràng, tác động lẫn nhau.
Việc tuân thủ quy định pháp luật chắc chắn đưa đến các chỉ phí kinh tế cho doanh nghiệp. Và quy tắc đạo đức xã hội ngoài luật luôn mở rộng (theo trình độ phát triển của xã hội), tạo áp lực lên hệ thống pháp luật, bắt buộc các nhà làm luật phải luôn bám sát thực tiễn xã hội. Bên cạnh đó, một số tác giả cho rằng: CSR của doanh nghiệp có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau và bao trùm nhiều khía cạnh. Ngoài cách tiếp cận theo mô hình “Kim tự tháp” của A.
Carroll, các doanh nghiệp có thể tiếp cận theo các bên liên quan. Tiệp cân theo các bên liên quan Các bên liên quan, ảnh hưởng và hưởng lợi của việc thực thi CSR doanh nghiệp có thể bao gồm: Cô đông/chủ sở hữu doanh nghiệp, người lao động, đối tác, khách hàng, cộng đồng và các đối tượng khác như cơ quan quản lý, các hiệp hội hay các tô chức phi lợi nhuận hay các tô chức quốc tế (Matten và Moon, 2005). Theo hình 2, CSR đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tô chức hoạt động kinh doanh có trách nhiệm đối với người lao động, có trách nhiệm bảo vệ môi trường, trách nhiệm đóng góp cho lợi ích cộng đồng, trách nhiệm đối với khách hàng, nhà cung ứng. Bảo vệ môi trường Khách hàng Hình 2.2: Các đối tượng tác động của CSR Nguồn: Tác giả tổng hợp Các nội dung thực thi CSR và các mức độ quan tâm của các bên liên quan khác nhau đến việc thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là khác nhau.
Có thê thấy rằng tùy thuộc vào mục tiêu của từng đối tượng cụ thể mà các khía cạnh CSR sẽ được nhận thức theo từng mức độ khác nhau. Đối với chủ sở hữu công ty, họ luôn xem trách nhiệm kinh tế là mực tiêu quan tâm hàng đầu đối với họ vì lợi ích của cô đông và chính bản thân công ty. Trong khi khách hàng luôn đặt vẫn đề đạo đức của công ty vào sản phẩm họ sản xuất và cung cấp trên thị trường là mối quan tâm chính, thì người lao động lại xem trách nhiệm thực thi pháp luật của công ty đối với họ lại là vẫn đề thiết yếu để bảo vệ quyền và lợi ích của chính bản thân cũng như gia đình của họ.