phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận 11 Trong chương này, luận án trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về nội dung tương tác hội thoại trong phân tích hội thoại trên thế giới và những ứng dụng vào việc nghiên cứu tương tác hội thoại tiếng Việt trong thực tế giao tiếp cũng như ứng dụng vào việc giảng dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai. Luận án cũng trình bày những cơ sở lý luận phục vụ cho đề tài bao gồm: lý thuyết tương tác hội thoại trong phân tích hội thoại, lý thuyết về hành động ngôn từ và lý thuyết về việc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai. Chƣơng 2: Khảo sát về tƣơng tác hội thoại trong thực tế và trong các giáo trình tiếng Việt thực hành – những dữ liệu định hƣớng Trong chương này luận án tiến hành khảo sát hội thoại trong giao tiếp thực tế, khảo sát hội thoại trong các giáo trình ở các trình độ về bối cảnh giao tiếp, vai giao tiếp, hành vi giao tiếp và so sánh với hội thoại thực tế. Chƣơng 3: Thiết kế xây dựng hội thoại trong các giáo trình tiếng Việt và đề xuất phƣơng pháp giảng dạy kỹ năng hội thoại tiếng Việt Trong chương này, luận án đưa ra những đề xuất xây dựng hội thoại cho các giáo trình ở các trình độ cũng như đề xuất phương pháp giảng dạy hội thoại giáo trình và phương pháp giảng dạy phát triển kỹ năng hội thoại cho học viên nước ngoài với những nội dung có khảo nghiệm thực tế.
12 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu tương tác hội thoại và Phân tích hội thoại – Conversation Analysis (CA) trên thế giới Hội thoại là sự tương tác bằng lời, là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến và quan trọng nhất của sự hành chức ngôn ngữ. Nghiên cứu về hội thoại là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của ngữ dụng học từ cuối thế kỷ XX.
Phân tích hội thoại (Conversation Analysis) ra đời vào những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, dựa trên nền tảng tư tưởng của ngành nghiên cứu những phương pháp mà người dân bản địa sử dụng hàng ngày để ứng xử trong cuộc sống xã hội - ethnomethodology do Harold Garfinkel sáng lập và quan điểm về trật tự tương tác của Evring Goffman. Người được xem là cha đẻ của CA là nhà xã hội học Harvey Sacks và hai cộng sự là Emanuel Schegloff và Gail Jefferson. CA nghiên cứu ngôn ngữ được sử dụng trong tương tác xã hội. Thông qua ngôn ngữ, nhà nghiên cứu có thể hiểu được các tương tác xã hội hay các hành vi tạo ra các hoạt động xã hội.
Các nhà phân tích hội thoại sẽ xem xét những hội thoại ghi được từ cuộc sống không chỉ về mặt nội dung và hình thức mà còn về một lượng lớn các nội dung ẩn chứa bên trong những lời nói đó. Như vậy, có thể thấy phân tích hội thoại xuất phát từ những tương tác xã hội để từ đó phân tích và mô tả những gì mà người dân bản địa sử dụng để tạo ra tương tác và từ đó tái tạo lại những cơ chế tương tác. Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu đã dành sự quan tâm nhiều hơn đến ngôn ngữ lời nói mà cụ thể hơn là ngôn ngữ hội thoại với những tên tuổi như N.P Grice, trong đó, phải kể đến cuốn “Logic and Conversation” của Grice với rất nhiều nội dung được coi là kim chỉ nam cho nhiều nhà nghiên cứu sau này ở cả trên thế giới và Việt Nam. Trong cuốn sách kinh điển này, lần đầu tiên, Grice đã đề cập đến những kết quả nghiên cứu về nguyên lý hội thoại, tương tác hội thoại hay liên kết hội thoại.
Trong khi đó, bàn về một nội dung khác và khá phức tạp của hội thoại là hàm ý hội thoại, G.Yule (1986) đã chỉ ra được những đặc tính của hàm ý hội thoại trong mối quan hệ tương tác giữa các nhân vật giao tiếp và những nội dung về lịch sự và tương tác. Có cùng mối quan tâm, Liddicoat Anthony J. (2007) với cuốn sách 13 “An Introduction to Conversation Analysis” (tạm dịch là “Dẫn luận phân tích hội thoại” được tái bản và bổ sung năm 2011) không chỉ đã tổng hợp được nhiều kết quả nghiên cứu về phân tích hội thoại nói chung và tương tác hội thoại trong đời thường nói riêng của các nhiều nhà nghiên cứu như Sacks (1984), Psathas (1995), Schegloff (1996, 1997), Ten Have (2007) mà còn đề xuất nhiều nội dung tương tác hội thoại mới mẻ, có tính ứng dụng cao vào tiến trình dạy tiếng được chúng tôi lựa chọn làm cơ sở lý thuyết chính cho luận án này. Quan điểm chính của Liddicoat về phân tích hội thoại là: xuất phát từ quan điểm cho rằng mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu phân tích hội thoại là miêu tả và giải thích khả năng sử dụng ngôn ngữ của một người bình thường; dựa vào khả năng này, người đó tham gia các cuộc tương tác thông thường.
Phân tích hội thoại nhằm tìm hiểu những quy trình chung mà người tham gia tương tác sử dụng để tạo ra và nhận diện những hành động có nghĩa trong cuộc thoại. Liddicoat quan tâm nhiều đến bối cảnh tương tác, cách thu thập và xử lý dữ liệu hội thoại, triển khai phân tích dữ liệu và so sánh dữ liệu. Liddicoat cũng nhấn mạnh vai trò của nhà nghiên cứu trong quá trình phân tích tương tác hội thoại là không được áp đặt trước những định kiến chủ quan của mình mà phải nhìn nhận từ góc độ của người tham gia cuộc tương tác, từ đó, tìm ra những nội dung tương tác xuất hiện ngay trong chính các cuộc tương tác và do người tham gia tương tác tạo ra. Một số trường hợp tương tác bị coi là “lệch chuẩn” vẫn được tác giả coi như một đặc thù của tương tác hội thoại trong giao tiếp đời thường chứ không phải là những trường hợp vi phạm nguyên tắc giao tiếp.
Trước đó, Goodwin (2000) cũng đã quan tâm đến vấn đề này khi đưa ra một tập hợp các nghiên cứu phân tích hội thoại về cách mà con người sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp đời thường mà tiêu biểu là những nghiên cứu về tương tác trong gia đình (Family Speak), tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ thực hiện trong phạm vi hẹp là bối cảnh tương tác trong các gia đình nhập cư ở nước Mỹ. Ngoài ra, cũng có rất nhiều các nhà nghiên cứu khác đề cập đến nội dung tương tác hội thoại trong mối quan hệ với những lĩnh vực khác như tương tác và ngữ pháp, tương tác và tập quán ngôn ngữ, các trình tự trong sự tương tác hội thoại. Một xu hướng khác trong nghiên cứu phân tích hội thoại là nghiên cứu hoạt động tương tác hội thoại trong những bối cảnh giao tiếp cụ thể, có tính cố định và 14 quy chuẩn hơn như hội thoại trong lĩnh vực tư pháp, các cuộc gọi điện thoại khẩn cấp, tương tác giáo viên và học sinh trên lớp, các cuộc tương tác giữa người mua và người bán. Những nghiên cứu này được thực hiện ngay từ giai đoạn phát triển đầu tiên (từ 1968 đến 1990) của CA.
Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu là nghiên cứu của Schegloff (1968) về tương tác giữa cảnh sát trực điện thoại và những người thực hiện các cuộc gọi yêu cầu hỗ trợ khẩn cấp, nghiên cứu của Stubbs (1986) về mô hình tương tác phổ biến giữa giáo viên và học viên trên lớp học, nghiên cứu của Cazden (2001) về chiến lược dạy học được giáo viên và học sinh sử dụng hay nghiên cứu của Liddicoat (2011) về những nội dung tương tác mới nảy sinh từ trục trặc trong cuộc tương tác giữa giáo viên dạy ngoại ngữ và sinh viên… Những kết quả nghiên cứu về phân tích hội thoại đặc biệt là nội dung tương tác trong phân tích hội thoại đã được các giáo viên dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai ứng dụng rất nhiều vào quá trình giảng dạy. Kế thừa những nghiên cứu của những nhà ngôn ngữ học theo quan điểm của <ethnomethodology> như Jefferson (1972), Sacks (1972), Schegloff (1972), Goffman (1976) và các nhà ngôn ngữ học triết học như Austin (1962), Searle (1969) và Grice (1975), Sze Paul (The Chinese University of Hongkong) đã có những nhận định, đánh giá về sự khác biệt giữa hội thoại tự nhiên và hội thoại đã được đưa vào giảng dạy. Tác giả cũng phân biệt rõ ràng dạy kỹ năng nói và kỹ năng hội thoại đồng thời chủ trương đưa các dạng hội thoại tự nhiên của cuộc sống vào giảng dạy. Trong khi đó, hai tác giả Wong Jean (The College of New Jersy) và Zhang Hansun (Teachers College, Columbia University) lại dành sự quan tâm đến một nội dung trọng tâm của CA là các hoạt động tương tác cụ thể trong cuộc thoại và đưa ra phương thức tạo lập hội thoại bắt đầu từ việc tạo ra cặp thoại – đơn vị cơ bản của cuộc thoại.
Một số giáo viên dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai khác tại các trường đại học trên thế giới như Oksana Ye. Milova (Boris Grinchenko Kyiv University, Kyiv) hay Ngowannanchai Jumjin (Graduate School of English, Assumption University, Bangkok, Thailand) cũng theo quan điểm của CA khi đều coi các cuộc thoại tự nhiên với bối cảnh, tình huống cụ thể như những mô hình bài học để dạy kỹ năng giao tiếp tiếng Anh trên lớp học. Việc vận dụng lý thuyết phân 15 tích hội thoại vào dạy kỹ năng hội thoại vẫn được các giáo viên dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai trên khắp thế giới bàn luận sôi nổi cho đến ngày nay. Nói tóm lại, phân tích hội thoại nói chung và những nội dung về tương tác hội thoại nói riêng trong phân tích hội thoại từ khi ra đời đã không ngừng được giới ngôn ngữ học ứng dụng quan tâm và phát triển.
Những công trình nghiên cứu không chỉ bao hàm những vấn đề lý thuyết đại cương mà còn có những nội dung đi sâu về ứng dụng. Những kết quả nghiên cứu về tương tác trong phân tích hội thoại là một trong những nền tảng quan trọng xây dựng nên những bài hội thoại trong các giáo trình dạy tiếng nước ngoài nói chung và giáo trình tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng nhằm đảm bảo cả tính lý thuyết và tính ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ.