chương 1 của cuốn sách, các tác giả đã chỉ rõ: Bối cảnh Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với ba đặc trưng. Một là, với hai mâu thuẫn cơ bản quan hệ khăng khít nhau (Mâu thuẫn giữa thực dân Pháp cùng phong kiến tay sai với toàn thể dân tộc Việt Nam; mâu thuẫn giữa địa chủ phong kiến với nhân dân Việt Nam), nhân dân Việt Nam vừa không có quyền sống, quyền tự do, lại còn bị xâm phạm về thân thể, chịu nhục hình, bị đối xử dã man, vô nhân đạo, bị hạ thấp nhân phẩm. Hai là, chắt lọc tư tưởng của các nhà khai sáng Môngtexkiơ (1689-1755), Vônte (1694-1778), Rútxô (1712-1778), Hồ Chí Minh thường lên án cái gọi là “công lý” của nhà nước tư sản. Ba là, mâu thuẫn dân tộc là sự bao trùm xã hội Việt Nam, tất yếu dẫn đến các phong trào đấu tranh thực hiện khát vọng độc lập, tự do và quyền con người.
Đó là thực tiễn hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh. Về đặc điểm quê hương, gia đình: Hồ Chí Minh sinh trưởng trong gia đình nhà Nho yêu nước, học tập và trưởng thành trên hai quê hương (Nam Đàn và Huế) là các nôi cách mạng Việt Nam. Gia đình, quê hương, đất nước đã chuẩn bị rất đầy đủ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của Việt Nam để Người ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Về bối cảnh thời đại, với vốn tri thức uyên thâm, phong phú qua tích lũy rèn luyện trong nước và nước ngoài, năm 1920, khi đến được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về dân tộc và dân tộc thuộc địa” của V.
Lênin, Người đã có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về quyền con người. Từ đó, Người không ngừng phát triển, hoàn thiện lý luận nhân quyền của mình bằng thực tiễn cách mạng Việt Nam, cho ra đời “Tuyên ngôn Độc lập” 1945 và “Hiến pháp Việt Nam 1946”. Những tuyên bố bất hủ, không thể chối cãi được của Người về nhân quyền trong hai tác phẩm ấy trùng khít, nhưng có trước “Tuyên ngôn về quyền con người” của Liên hợp quốc 10/12/1948. Các công trình nghiên cứu liên quan tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ quyền quốc gia và quyền con người 1.
Các công trình nghiên cứu liên quan tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ quyền quốc gia “Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh” (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2004), của tác giả Bùi Ngọc Sơn chỉ ra bốn nguyên tắc lập hiến của Hồ Chí Minh là: Đoàn kết dân tộc; chủ quyền nhân dân; định hướng xã hội chủ nghĩa; do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tác giả cũng khẳng định: Tính dân tộc là nét đặc thù trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thành lập Quốc hội; quốc hội là hiện thân, thể hiện sinh động ý chí, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, nhằm giành, khẳng định và củng cố nền độc lập dân tộc. Chỉ có một Quốc hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh mới phúc đáp được nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam. Trong “Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010), các tác giả Vũ Đình Hòe và Bùi Đình Phong (đồng chủ biên), nhận định: Thực chất vấn đề dân tộc thuộc địa ở Hồ Chí Minh là đấu tranh tự giải phóng nhằm thủ tiêu ách thống trị của nước ngoài, giành lại độc lập cho dân tộc, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập, tự do.
Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng của tất cả các dân tộc. Thống nhất giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng nhân loại; kết hợp độc lập dân tộc với xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tác giả Nguyễn Hùng Hậu (Chủ biên), với cuốn sách “Triết lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011), đã phân tích làm rõ cái bất biến lớn nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh là “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Đối với Hồ Chí Minh, Việt Nam có quyền bình đẳng với mọi dân tộc trên thế giới, mọi dân tộc đều bình đẳng.
Điều này thể hiện rõ trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” 1945 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Người soạn thảo. 16 Tư liệu được xem là đầy đủ nhất tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ quyền quốc gia và quyền con người là “Hồ Chí Minh Toàn tập”, gồm 15 tập, (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013). Bộ sách này cung cấp đầy đủ nhất những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh. Trong đó, có các chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc, chủ nghĩa xã hội.
Liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài có các chủ đề: Dân tộc Việt Nam có khoảng 600 tư liệu; vấn đề dân tộc thuộc địa khoảng 100 tư liệu; quan hệ dân tộc và giai cấp có 75 tư liệu; quan hệ giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới với 233 tư liệu. Ngoài ra, còn có các tư liệu về cách mạng giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,. Tác giả Hoàng Chí Bảo trong “Tư tưởng giải phóng của Hồ Chí Minh” (Tạp chí Cộng sản, số 859/2014), đã chỉ ra tư tưởng giải phóng của Hồ Chí Minh là cơ sở nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam, sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Các tác giả Trần Văn Phòng và Hoàng Anh, trong “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, một số vấn đề cơ bản” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015), nhận định: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản thể hiện ở ba luận điểm cơ bản.
Một là, độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mọi dân tộc. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không chỉ là tư tưởng, lẽ sống, mà là học thuyết cách mạng minh triết Hồ Chí Minh. Hai là, độc lập cho dân tộc mình đồng thời độc lập cho mọi dân tộc. Nêu cao tinh thần dân tộc tự quyết, nhưng Người không quên nghĩa vụ quốc tế nhằm đấu tranh giải phóng mọi dân tộc trên thế giới.
Ba là, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bài “Độc lập dân tộc - Lợi ích cơ bản của đất nước” (Tạp chí Cộng sản, số 882 (4/2016)), của tác giả Mai Hải Anh khẳng định, trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh thần độc lập dân tộc qua chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Năm 1920, sau khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của V. Lênin, Người đã tìm thấy cách giải quyết đúng đắn về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân 17 tộc.
Nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa trong tư tưởng Hồ Chí Minh là quyền độc lập, tự do, quyền bình đẳng và quyền tự quyết cho toàn thể dân tộc. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã là ngọn đuốc soi sáng cách mạng Việt Nam, là khát vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam và của thời đại. Tác giả Hoàng Chí Bảo với bài viết “Tư tưởng và triết lý Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc” (Tạp chí Cộng sản, số 883 (5/2016)), khẳng định, trong hành trình tìm đường cứu nước, chịu ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga và Luận cương của V.Lênin về dân tộc và dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng chủ đạo, bao trùm, xuyên suốt của mình là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người là tấm gương sáng của sự dấn thân để vì dân, hóa thân vào dân tộc và nhân dân để trọn đời thực hành đạo làm người của người cách mạng.
Các công trình nghiên cứu liên quan tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người Chương 2 của cuốn “Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh” (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004) của tác giả Bùi Ngọc Sơn, đã đề cập có hệ thống tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh về hiến pháp với tư cách là lãnh tụ tối cao của dân tộc. Hiến pháp đã xác nhận các quyền cơ bản của công dân là các quyền chính trị, các quyền tự do cá nhân, các quyền kinh tế - xã hội, các quyền về văn hóa. Tư duy lập hiến của Hồ Chí Minh thể hiện sự tôn trọng các quyền của con người, đồng thời bảo đảm thực hiện và cam kết các quyền con người không thể tùy tiện vi phạm. Đây chính là sự xác định ranh giới cho hoạt động công quyền.
Nhà nước không có mục đích tự thân. Nhà nước tồn tại vì con người. Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự với sách “Nhân quyền và quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về nhân quyền”, (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005), đã phân tích các nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh; chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người: Quyền con người là một giá trị nhân loại, gắn liền với dân tộc; quyền con người ở mỗi cá nhân gắn liền với quyền thiêng liêng của cả dân tộc; chỉ khi giành được độc lập dân 18 tộc thì quyền dân tộc tự quyết và quyền bình đẳng mới được thực hiện, mỗi dân tộc và mỗi con người mới được hưởng tự do và những quyền cơ bản của con người; đấu tranh giành độc lập dân tộc là cơ sở và điều kiện tiên quyết bảo đảm quyền con người cho nhân dân, cho từng cá nhân. Ở chương II trong cuốn“Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005), tác giả Phạm Ngọc Anh (Chủ biên), đã chỉ ra tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người không chỉ dừng lại ở quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do mà còn là quyền làm chủ, quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền được pháp luật bảo vệ, quyền của những nhóm người dễ tổn thương… Với Hồ Chí Minh, quyền con người không phải là sự ban phát của nhà nước, mà là quyền vốn có của người dân, do nhân dân đấu tranh mà giành được.