Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học với đề tài "Từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Quỳnh Thơ thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đặng Thị Hảo Tâm và TS. Nguyễn Thị Tâm, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (Mã số: 9229020).
-
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Động vật là một phần thiết yếu trong môi trường sinh thái và đời sống thường nhật của con người, đặc biệt đối với các tộc người thiểu số sinh sống lâu đời tại khu vực Tây Nguyên. Trong kho tàng văn học dân gian của người Ê-đê, đặc biệt là thể loại sử thi (khan), thế giới động vật xuất hiện với mật độ dày đặc, gắn liền mật thiết với các hoạt động săn bắt, chăn nuôi, lao động sản xuất, tín ngưỡng nguyên thủy, nghi lễ hiến tế, phong tục tập quán và tổ chức xã hội mẫu hệ. Mặc dù sử thi Ê-đê đã được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ văn học, văn hóa dân gian, nghệ thuật diễn xướng và nhân vật học, việc tiếp cận hệ thống từ ngữ chỉ động vật dưới góc độ ngôn ngữ học thuần túy kết hợp với ngôn ngữ học văn hóa nhằm giải mã cơ chế định danh và các biểu thức ngôn ngữ phản ánh tư duy tộc người vẫn còn là một khoảng trống nghiên cứu chưa được giải quyết một cách toàn diện.
-
Mục đích nghiên cứu: Khảo sát, xác lập, miêu tả và phân loại hệ thống từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê; phân tích đặc điểm định danh (phương thức định danh cơ sở và phái sinh); từ đó làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa tộc người, chỉ ra những nét đặc trưng trong bức tranh thế giới văn hóa của người Ê-đê được phản ánh qua lăng kính ngôn ngữ sử thi.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- (i). Hệ thống hóa cơ sở lí luận liên quan đến đề tài, bao gồm lí thuyết về nghĩa của từ, lí thuyết định danh ngôn ngữ và mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và văn hóa tộc người.
- (ii). Khảo sát, xác lập và phân tích hệ thống từ ngữ định danh động vật trong sử thi Ê-đê; xác lập và lí giải tần số xuất hiện của các nhóm từ ngữ chỉ động vật dựa trên các tiêu chí phân loại dân gian và khoa học.
- (iii). Phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa thông qua hệ thống từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê trên các bình diện: ứng xử với môi trường tự nhiên, đời sống tín ngưỡng, ẩm thực truyền thống, phong tục tập quán và các mối quan hệ xã hội.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Lớp từ ngữ chỉ động vật (bao gồm các danh từ, ngữ định danh, biểu thức ngôn ngữ miêu tả động vật) xuất hiện trong văn bản sử thi Ê-đê.
- Phạm vi nội dung: Tập trung khảo sát cơ chế định danh, phương thức định danh cơ sở và định danh phái sinh của tên gọi động vật; phân tích các bình diện ngữ nghĩa và mối liên hệ với văn hóa tộc người trong phạm vi văn bản sử thi Ê-đê.
- Phạm vi ngữ liệu: Khảo sát trên ngữ liệu của 6 bộ sử thi Ê-đê tiêu biểu đã được sưu tầm, dịch thuật và xuất bản, bao gồm: Anh em Klu Kla, Dăm Băng Mlan, Sum Lum, Hbia Mlin, Dăm Yi chặt đọt mây, và Mdrong Dăm. Ngoài ra, luận án sử dụng ngữ liệu đối chiếu mở rộng từ một số tác phẩm sử thi của các dân tộc lân cận như Ba-na, Mnông và các tác phẩm thơ ca, truyện cổ tích dân gian Thái để làm rõ tính khu biệt.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước theo các nhóm hướng tiếp cận chính:
-
Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật từ góc độ ngôn ngữ học:
- Dựa trên lí thuyết trường từ vựng: Các công trình của Nguyễn Đức Tồn (1993, 2002, 2008) đi sâu vào đặc điểm văn hóa - dân tộc của từ chỉ động vật qua đối chiếu tiếng Việt và tiếng Nga; Nguyễn Thúy Khanh (1996, 2001) xác lập trường từ vựng tên gọi động vật tiếng Việt với 21 nét nghĩa khu biệt; Nguyễn Thị Ngân Hoa (2002) phân xuất các nhóm động vật hoang dã, động vật nuôi, động vật lưỡng cư trong tiếng Việt hiện đại; Đỗ Thị Kim Liên (2000) khảo sát cấu trúc nghĩa của từ ngữ chỉ động vật; Lê Thị Thanh Huyền (2012) nghiên cứu trường từ vựng chim chóc và chỉ ra các tương đồng tri nhận hình thái, trạng thái.
- Dựa trên lí thuyết định danh: Đỗ Hữu Châu (1998) nghiên cứu cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng và phương thức định danh miêu tả chiếm tỉ lệ cao (91,8%); Nguyễn Thúy Khanh (2001) đối chiếu định danh động vật tiếng Việt và tiếng Pháp; Vương Lộc (2001) phân loại tên gọi động vật tiếng Việt theo tiêu chí dân gian và nguồn gốc (từ thuần Việt, Hán Việt, Ấn Âu, Khmer); Trịnh Thị Thu Hoà khảo sát từ ngữ chỉ động vật và thực vật trong tiếng Mường, chỉ ra cấu trúc định danh tôn ti thứ bậc giữa tên gọi gốc và tên gọi phái sinh.
- Dựa trên lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận: Phan Thế Hưng (2010), Trần Văn Tiếng (2014) khảo sát các biểu thức so sánh động vật trong tiếng Việt; Đặng Thị Hảo Tâm (2016) khảo sát từ ngữ chỉ động vật trong hai tác phẩm dân gian Thái Xống chụ xon xao và Quam tô mương, chỉ ra sự xuất hiện đậm đặc của biểu thức chỉ "cá" và "trâu" gắn liền với phương thức canh tác ruộng nước, đồng thời bước đầu so sánh với sự xuất hiện của hình tượng "voi", "ngựa", "trâu" trong sử thi Ê-đê gắn với canh tác nương rẫy luân khoảnh.
-
Nghiên cứu về sử thi Tây Nguyên và sử thi Ê-đê:
- Phan Đăng Nhật (1981, 1991) với các công trình nghiên cứu nền tảng về sử thi Ê-đê, vùng sử thi Tây Nguyên, đặc trưng nhân vật anh hùng và quan hệ hôn nhân mẫu hệ; Đỗ Hồng Kỳ (2007) phân tích hệ thống nhân vật và các biện pháp nghệ thuật trong sử thi Tây Nguyên; Võ Quang Trọng (2001) khảo sát nghệ thuật miêu tả nhân vật sử thi qua hệ thống so sánh liên hoàn; Hà Thị Thu Hà so sánh hình tượng nhân vật anh hùng trong sử thi Ê-đê và sử thi Mnông; Tô Ngọc Thanh nghiên cứu âm nhạc và diễn xướng sử thi; Nguyễn Thu Thủy (2011) chỉ ra nghệ thuật xây dựng nhân vật giữa sử thi Ê-đê và Mnông; Nguyễn Xuân Kính (2011) phân tích đặc trưng ngôn ngữ giàu hình ảnh, tính nhạc, tính kịch của sử thi Tây Nguyên; Trương Thông Tuần (2010) khảo sát văn hóa giao tiếp của người Ê-đê; Buôn Krông Tuyết Nhung (2013) nghiên cứu văn hóa gia đình và vai trò phụ nữ trong xã hội mẫu hệ Ê-đê.
-
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình nghiên cứu sử thi Ê-đê trước đây thuộc lĩnh vực nghiên cứu văn học dân gian, văn hóa học hoặc âm nhạc diễn xướng; các công trình ngôn ngữ học về từ ngữ động vật chủ yếu tập trung vào tiếng Việt hoặc một số ít tiếng dân tộc thiểu số phía Bắc (tiếng Mường, tiếng Thái). Cho đến trước luận án này, chưa có công trình nào tiến hành khảo sát có hệ thống, định lượng và định tính toàn diện về lớp từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê dưới góc độ định danh học kết hợp với ngôn ngữ học văn hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
-
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:
- Lí thuyết về từ và nghĩa của từ: Luận án vận dụng quan niệm về cấu trúc nghĩa của từ từ các nhà ngôn ngữ học (như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Thị Kim Liên), phân tích mối liên hệ giữa các thành phần ý nghĩa: ý nghĩa từ vựng (biểu vật, biểu niệm, biểu thái) và ý nghĩa ngữ pháp; xem xét chức năng định danh của các tín hiệu ngôn ngữ.
- Lí thuyết định danh (Onomasiology): Tiếp cận quá trình gán tên gọi cho sự vật, hiện tượng. Phân biệt hai phương thức định danh cơ bản:
- Định danh cơ sở: Sử dụng các đơn vị từ vựng đơn nhất, tối giản về hình thái, trực tiếp biểu đạt giống/loài tổng quát (ví dụ: êman - voi, mnŭ - gà, kbao - trâu, kan - cá).
- Định danh phái sinh: Sử dụng các cấu trúc từ ghép, cụm từ chính phụ miêu tả, phương thức hóa cụm từ tự do, ẩn dụ và hoán dụ để biểu đạt các tiểu loại động vật dựa trên đặc điểm cấu tạo cơ thể, màu sắc, giới tính, môi trường sống, đặc điểm sinh sản. Luận án kế thừa quan điểm của Đỗ Hữu Châu về việc các cụm từ miêu tả cố định trong sử thi qua quá trình lặp lại đã đảm nhận chức năng định danh.
- Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa: Ngôn ngữ là nơi lưu trữ, phản ánh các giá trị văn hóa tộc người, thế giới quan, môi trường sinh thái, phương thức sản xuất, phong tục tập quán và tổ chức xã hội của cộng đồng bản địa.
- Đặc điểm tộc người và thể loại sử thi Ê-đê: Bối cảnh không gian cư trú Tây Nguyên, chế độ mẫu hệ, tín ngưỡng vạn vật hữu linh (yang), nghi lễ cúng thần và phương thức diễn xướng kể khan.
-
Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu:
- Phương pháp miêu tả: Phân tích ngữ nghĩa, cấu trúc hình thái và mô hình định danh của các từ ngữ chỉ động vật trong văn bản.
- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Mổ xẻ các nét nghĩa biểu vật, biểu niệm, đặc điểm thuộc tính của tên gọi động vật để tìm ra cơ sở định danh.
- Phương pháp phân tích ngữ cảnh: Đặt từ ngữ chỉ động vật vào ngữ cảnh phát ngôn sử thi và ngữ cảnh văn hóa - xã hội Ê-đê để giải mã ý nghĩa biểu trưng.
- Thủ pháp thống kê, phân loại, hệ thống hóa: Thống kê tần số xuất hiện, phân loại 5 nhóm động vật theo tiêu chí dân gian kết hợp phân loại học sinh học; phân lập các mô hình định danh và lập bảng tổng hợp số liệu.
-
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu: Ngữ liệu khảo sát gồm 5.821 lượt xuất hiện của từ ngữ chỉ động vật, được trích xuất trực tiếp từ 6 bộ sử thi Ê-đê song ngữ (Ê-đê - Việt):
| STT | Tên tác phẩm sử thi Ê-đê | Số lượt xuất hiện từ ngữ chỉ động vật |
|---|---|---|
| 1 | Mdrong Dăm | 1.958 |
| 2 | Dăm Băng Mlan | 1.152 |
| 3 | Anh em Klu Kla | 866 |
| 4 | Hbia Mlin | 748 |
| 5 | Sum Lum | 645 |
| 6 | Dăm Yi chặt đọt mây | 452 |
| Tổng | 6 bộ sử thi | 5.821 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 1 thiết lập bức tranh tổng quan về lịch sử nghiên cứu từ ngữ chỉ động vật trong Việt ngữ học (theo trường từ vựng, lí thuyết định danh và ngôn ngữ học tri nhận) cũng như các nghiên cứu về sử thi Tây Nguyên và sử thi Ê-đê. Chương này xác lập khung lí thuyết cốt lõi cho luận án:
- Phân tích bản chất của từ, nghĩa của từ và chức năng định danh của tín hiệu ngôn ngữ. Luận án khẳng định trong thể loại sử thi, các cụm từ miêu tả đặc điểm động vật xuất hiện lặp đi lặp lại đã chuyển hóa thành các đơn vị định danh tương đương tên gọi.
- Hệ thống hóa các phương thức định danh: phân biệt định danh cơ sở và định danh phái sinh, chỉ rõ các cơ sở định danh (hình dáng, màu sắc, âm thanh, môi trường sống, đặc điểm sinh sản, công dụng).
- Xác lập mối liên hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và văn hóa tộc người Ê-đê, phân tích đặc trưng xã hội mẫu hệ, không gian rừng đại ngàn Tây Nguyên và hệ thống tín ngưỡng đa thần ảnh hưởng đến việc tạo lập hệ thống từ ngữ chỉ động vật.
Chương 2. Đặc điểm định danh từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê
Chương 2 thực hiện phân loại, thống kê định lượng và phân tích đặc điểm định danh của hệ thống từ ngữ chỉ động vật từ ngữ liệu 6 bộ sử thi. Luận án kết hợp tiêu chí phân loại dân gian (chia thành 5 nhóm lớn) và tiêu chí khoa học sinh học để khu biệt các tiểu nhóm.
Hệ thống 64 tên gọi động vật trong sử thi Ê-đê được thống kê cụ thể như sau:
| STT | Tên nhóm động vật (Tiếng Ê-đê) | Tên nhóm động vật (Tiếng Việt) | Số lượng loài | Tỉ lệ % | Các loài tiêu biểu trong văn bản |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Čim | Nhóm Chim | 20 | 31,25% | čim ktrâo (chim cu), mnŭ (gà), tlang (đại bàng), čim ak (chim ó), mnŭ dliê (gà rừng), čim krao (chim sáo), čim pliêu (chim chào mào), čim yo\ng (chim công)... |
| 2 | Hlô | Nhóm Thú | 21 | 32,81% | êman (voi), un (heo/lợn), êmô (bò), kbao (trâu), aseh (ngựa), asâo (chó), êmeh (tê giác), hlô rang (nai), êmông (cọp), kgâo (gấu), kuênh (tê tê/trút)... |
| 3 | Mnơ\ng phiơr đhiêt | Nhóm Côn trùng | 9 | 14,06% | muôr (mối), hluăt (sâu), rui (ruồi), bloh (muỗi), hdăm (kiến), hdăm ktăr (kiến lửa), hnuê (ong), wăk wai (nhện), êmông ki (bọ hung/ve)... |
| 4 | Mnơ\ng hdĭp kkuê wăt hlăm mwa | Nhóm Lưỡng cư và Bò sát | 8 | 12,50% | ajik (ếch), ala (rắn), prao (thạch sùng/kỳ nhông), hbâo (rùa), ajik dliê (nhái rừng), ala kruak (trăn), tlăn (trăn đất), ala kruak tang (rắn cạp nong)... |
| 5 | Kan | Nhóm Cá và Thủy sản | 6 | 9,37% | kan kruah (cá lóc), *kan krua* (cá tràu), kan krê` (cá trê), kan pra^ (cá mè/cá mỡ), hdang (tôm), ênu\ng (cua/lươn/ốc)... |
| Tổng | 5 nhóm | 64 | 100% | 5.821 lượt xuất hiện |
Về phương thức định danh:
- Phương thức định danh cơ sở: Chiếm vị trí nòng cốt cho tên gọi giống loài chung, có cấu tạo từ đơn tiết hoặc song tiết nguyên hợp (êman, kbao, aseh, mnŭ, čim, kan).
- Phương thức định danh phái sinh: Được cấu tạo bằng mô hình ngữ pháp ngữ tính từ hoặc ngữ danh từ chính - phụ, danh từ hóa cụm từ miêu tả:
- Định danh theo thành tố chỉ giống/loài kết hợp đặc điểm hình thể: sừng, ngà, vòi, lông, mỏ (êman knôpro\ng mla - voi đực ngà dài).
- Định danh theo màu sắc: màu lông của ngựa, trâu, bò, chim (aseh kơk - ngựa trắng, aseh kram - ngựa ô/đen, čim ktrâo mtah - chim cu xanh, čim ktia\ k`^ - chim két vàng).
- Định danh theo đặc điểm sinh sản và giới tính: con đực, con cái, con đầu đàn (un đực, kbao nái).
- Định danh theo môi trường sống: phân biệt động vật sống trong rừng tự nhiên và động vật nuôi (mnŭ dliê - gà rừng, ajik dliê - nhái rừng, hlô hoang - thú rừng).
Chương 3. Từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê và đặc trưng văn hoá tộc người
Chương 3 đi sâu giải mã ý nghĩa biểu trưng văn hóa của hệ thống từ ngữ chỉ động vật qua các khía cạnh đời sống xã hội Ê-đê:
- Ứng xử với môi trường tự nhiên: Rừng đại ngàn (dliê) là không gian sinh tồn của động vật hoang dã. Tần số xuất hiện dày đặc của các loài thú lớn (voi, cọp, gấu, tê giác, bò tót) phản ánh quá trình người Ê-đê thích nghi, chế ngự và khai thác tự nhiên qua phương thức săn bắt truyền thống.
- Văn hóa tín ngưỡng và tâm linh: Phản ánh thế giới quan đa thần (vạn vật hữu linh). Động vật đóng vai trò là vật hiến sinh bắt buộc trong hệ thống nghi lễ cổ truyền (lễ cúng thần rừng, cúng bến nước, cúng mừng chiến thắng, cúng sức khỏe, tang lễ), trong đó trâu (kbao), lợn (un), gà (mnŭ) là các lễ vật trung tâm. Biểu thức chỉ chim phản ánh quan niệm tô tem giáo và tín ngưỡng chim hóa thân, linh hồn ông bà tổ tiên chuyển sinh vào loài chim (čim ktrâo, čim tlang).
- Văn hóa ẩm thực: Từ ngữ phản ánh nguồn thực phẩm từ thịt động vật hoang dã và vật nuôi, các phương thức chế biến món ăn truyền thống (thịt nướng, thịt hun khói, canh thụt, thịt ướp chua) phục vụ bữa ăn thường nhật và tiệc tùng cộng đồng.
- Phong tục tập quán: Hệ thống hoa văn mô phỏng hình tượng động vật (rùa, rắn, kỳ nhông, chim) trên trang phục thổ cẩm truyền thống của đàn ông và phụ nữ Ê-đê; việc sử dụng các bộ phận cơ thể động vật (ngà voi, sừng trâu, da cọp) làm đồ trang sức, nhạc khí (tù và) hoặc vật đo lường của cải, sự giàu có (mnêi kbao êman).
- Mối quan hệ xã hội và nghệ thuật sử thi: Sử dụng các biểu thức so sánh động vật để khắc họa nhân vật:
- Nhân vật anh hùng sử thi (Dăm San, Dăm Kteh Mlan, Klu, Kla) được ví với sức mạnh của voi đực ngà dài, đại bàng bay lượn, cọp dữ, tạo thế oai phong lẫm liệt.
- Nhân vật phụ nữ (Hbia Mlin, Hbia Hran) được so sánh với vẻ đẹp mềm mại, uyển chuyển của chim sáo, chim chào mào, mắt sáng như mắt chim công.
- Thể hiện trật tự gia đình và xã hội mẫu hệ, tinh thần cộng đồng buôn làng bền chặt.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Đóng góp mới về mặt lí luận:
- Vận dụng thành công lí thuyết định danh ngôn ngữ học và lí thuyết ngôn ngữ học văn hóa vào việc nghiên cứu hệ thống từ ngữ chỉ động vật trong một thể loại văn học dân gian cụ thể (sử thi) của một ngôn ngữ tộc người thiểu số tại Việt Nam.
- Chứng minh sự chuyển dịch chức năng từ miêu tả thuần túy sang chức năng định danh của các cụm từ tự do lặp lại trong văn bản sử thi, bổ sung tư liệu cho lí thuyết định danh học tiếng Ê-đê nói riêng và ngôn ngữ các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian) tại Việt Nam nói chung.
-
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp một bảng ngữ liệu định lượng đầy đủ gồm 5.821 lượt xuất hiện của 64 tên loài động vật thuộc 5 nhóm lớn trong 6 bộ sử thi Ê-đê tiêu biểu.
- Xác lập hệ thống các mô hình định danh cơ sở và phái sinh của tên gọi động vật tiếng Ê-đê.
- Giải mã chi tiết các tầng ý nghĩa văn hóa, tín ngưỡng, tập quán xã hội của người Ê-đê gắn liền với thế giới động vật qua văn bản sử thi.
-
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Đề xuất tiếp tục ứng dụng phương pháp tiếp cận liên ngành (ngôn ngữ học - văn hóa học - nhân học) để khảo sát các trường từ vựng khác (như thực vật, đồ vật, trang phục) trong kho tàng sử thi Tây Nguyên.
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào công tác biên soạn từ điển song ngữ Ê-đê - Việt, tài liệu giảng dạy tiếng Ê-đê tại các trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường sư phạm trong khu vực Tây Nguyên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế:
- Luận án chỉ mới khảo sát trên ngữ liệu của 6 bộ sử thi Ê-đê đã được dịch và xuất bản, chưa thể bao quát toàn bộ hơn 50 bộ sử thi Ê-đê hiện có trong kho tàng văn học dân gian Tây Nguyên.
- Do tính chất ngữ liệu thành văn dựa trên các bản dịch song ngữ, một số đặc trưng ngữ âm - từ vựng mang tính biến thể phương ngữ vùng miền trong diễn xướng truyền khẩu trực tiếp chưa được khảo sát triệt để.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi ngữ liệu sang các bộ sử thi Ê-đê khác và các thể loại dân gian phong phú khác của người Ê-đê như lời nói vần (klei đuê), truyện cổ tích, dân ca (khan và kưt).
- Triển khai nghiên cứu so sánh đối chiếu hệ thống từ ngữ chỉ động vật giữa sử thi Ê-đê với sử thi của các dân tộc lân cận như Mnông (Ot Ndrông), Ba-na (Hmon) và Gia-rai để làm rõ các hằng số văn hóa chung của vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên.
Giá trị tham khảo
-
Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Văn hóa học, Văn học dân gian, Dân tộc học và Nhân học văn hóa.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Tây Nguyên: Cung cấp cứ liệu ngôn ngữ chính xác để giải thích các phong tục, lễ hội, biểu tượng nghệ thuật sử thi.
- Cơ quan quản lý văn hóa và giáo dục địa phương: Phục vụ công tác bảo tồn, lưu giữ di sản văn hóa phi vật thể Tây Nguyên; phục vụ việc biên soạn giáo trình, tài liệu dạy và học tiếng dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk và các tỉnh Tây Nguyên.
-
Các phần nội dung đáng tham khảo nhất:
- Hệ thống bảng biểu thống kê tần số và danh mục 64 tên gọi động vật tiếng Ê-đê (Chương 2).
- Khung lí thuyết về sự chuyển dịch chức năng từ ngữ miêu tả thành đơn vị định danh trong văn bản sử thi (Chương 1 và Chương 2).
- Phân tích chi tiết về biểu trưng tín ngưỡng (lễ hiến sinh, chim hóa thân) và biểu thức so sánh nhân vật sử thi gắn với động vật (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát từ ngữ chỉ động vật trên bao nhiêu bộ sử thi Ê-đê và thu được bao nhiêu lượt ngữ liệu? Luận án tiến hành khảo sát trên 6 bộ sử thi Ê-đê tiêu biểu (Mdrong Dăm, Dăm Băng Mlan, Anh em Klu Kla, Hbia Mlin, Sum Lum, Dăm Yi chặt đọt mây), thu được tổng cộng 5.821 lượt xuất hiện của 64 tên loài động vật khác nhau.
2. Nhóm động vật nào chiếm số lượng loài và tần số xuất hiện cao nhất trong sử thi Ê-đê? Nhóm Thú (Hlô) và nhóm Chim (Čim) chiếm ưu thế tuyệt đối. Nhóm Thú có 21 loài (chiếm 32,81%), nhóm Chim có 20 loài (chiếm 31,25%). Trong đó, các loài thú lớn như voi (êman), trâu (kbao), ngựa (aseh), cọp (êmông) và các loài chim như gà (mnŭ), chim cu (čim ktrâo), đại bàng (tlang) xuất hiện với tần số cao nhất.
3. Tên gọi động vật trong sử thi Ê-đê được cấu tạo theo những phương thức định danh nào? Tên gọi động vật được cấu tạo theo hai phương thức chính: phương thức định danh cơ sở (từ đơn mang tính biểu danh trực tiếp loài/giống như êman, kbao, mnŭ, kan) và phương thức định danh phái sinh (kết hợp thành tố chỉ loại với đặc điểm hình thể, màu sắc, giới tính, môi trường sống hoặc cụm từ miêu tả cố định).
4. Động vật đóng vai trò gì trong văn hóa tín ngưỡng và nghi lễ của người Ê-đê phản ánh trong sử thi? Động vật là vật phẩm hiến tế trung tâm trong các nghi lễ cúng thần linh (yang), cúng bến nước, cúng sức khỏe, cúng mừng thắng trận (chủ yếu là trâu, lợn, gà). Ngoài ra, loài chim còn mang ý nghĩa biểu tượng tâm linh gắn liền với quan niệm tô tem giáo và niềm tin chim là hóa thân của linh hồn tổ tiên.
5. Hình tượng động vật được sử dụng như thế nào trong nghệ thuật khắc họa nhân vật sử thi Ê-đê? Động vật được dùng làm phương tiện so sánh liên hoàn: sức mạnh, tầm vóc của người anh hùng được ví với voi đực ngà dài, chim đại bàng, cọp hung dữ; vẻ đẹp duyên dáng của người phụ nữ mẫu hệ được so sánh với chim chích, chim sáo, chim chào mào.
Kết luận
Luận án "Từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê" của Nguyễn Thị Quỳnh Thơ là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, kết hợp liên ngành giữa định danh học và ngôn ngữ học văn hóa. Thông qua việc phân loại, thống kê 5.821 lượt ngữ liệu của 64 tên loài động vật trong 6 bộ sử thi Ê-đê, công trình đã làm sáng tỏ các mô hình định danh cơ sở và phái sinh của tiếng Ê-đê. Đồng thời, luận án đã giải mã thành công bức tranh văn hóa tộc người Ê-đê trên các bình diện sinh thái tự nhiên, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, ẩm thực truyền thống, phong tục tập quán và tổ chức xã hội mẫu hệ. Đây là tài liệu khoa học có giá trị tham khảo cao cho nghiên cứu ngôn ngữ học, dân tộc học và bảo tồn di sản văn hóa Tây Nguyên.