CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài trên thế giới Quá trình nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí và tổ chức kế toán quản trị chi phí trên thế giới đã diễn ra trong hơn 2 thế kỉ qua với số lượng lớn các công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, do gặp khó khăn về ngôn ngữ và điều kiện tiếp cận các công trình nghiên cứu, trong phạm vi luận án, tác giả giới hạn trình bày một số công trình mà tác giả đã tiếp cận trong quá trình nghiên cứu phục vụ đề tài luận án của mình.
Kế toán quản trị xuất hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ vào những năm đầu của thế kỉ 19. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh cả về quy mô và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp trong giai đoạn từ thập kỉ 80 thế kỉ XX đến nay, kế toán quản trị nói chung, kế toán quản trị chi phí nói riêng và tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí đã có sự phát triển mạnh mẽ, thể hiện rõ vai trò của mình trong công tác quản trị doanh nghiệp, đáp ứng các yêu cầu của các nhà quản trị trong nền kinh tế thị trường. Đồng thời cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học với số lượng lớn các công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả đã lựa chọn tiếp cận với các công trình nghiên cứu trên thế giới theo các nội dung như sau: Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về các vấn đề lí luận cơ bản của kế toán quản trị.
Trong những năm 90, thế kỉ XX, kế toán quản trị đã hoàn thiện các nội dung lí luận cơ bản và lần đầu tiên được đưa vào giảng dạy với ý nghĩa là một môn khoa học tại Đại học Kinh doanh Harvard và Viện Công nghệ Massachusets. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: - Ronald W. Các công trình nêu trên đã làm rõ bản chất, chức năng, vai trò, nội dung cơ bản và các công cụ phổ biến sử dụng trong công tác kế toán quản trị của doanh nghiệp. Cung cấp các kiến thức cơ bản cho người đọc khi nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí 8 trong doanh nghiệp.
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về các phương pháp, kĩ thuật kế toán quản trị chi phí áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất. Các công trình nghiên cứu đi sâu phát triển các phương pháp kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp phân thành hai khu vực tiêu biểu: * Ở Hoa Kỳ và Châu Âu: là nơi ra đời và phát triển các phương pháp quản trị như Just in time (JIT), kế toán chi phí theo hoạt động (ABC), Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecards),… - Naughton - Travers (2001), “Activity-Based Costing: The new management tool” Behavioural Health Management, Mar/Apr 2001, Vol. 2, Page 48: nghiên cứu về phương pháp kế toán quản trị chi phí theo hoạt động - ABC: Tác giả đã trình bày hai đặc điểm cơ bản của phương pháp ABC là: 1) Giá thành sản phẩm theo ABC bao gồm toàn bộ các chi phí phát sinh trong kỳ kể cả các chi phí gián tiếp như chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp 2) Phương pháp ABC là phương pháp phân bổ chi phí phát sinh vào giá thành mỗi sản phẩm dựa trên mức hoạt động và mức độ đóng góp của mỗi hoạt động vào quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, do vậy giá thành sản phẩm phản ánh chính xác hơn mức chi phí thực tế kết tinh trong mỗi đơn vị sản phẩm [59]. - John Blake và nnk (2008) “The dimensions of, and factors giving rise to variations in national management accounting approaches”, European Business Review, Vol.
3, page 181-188: nghiên cứu về chi phí định mức, đã trình bày 3 phương pháp xác định chi phí định mức trong doanh nghiệp sản xuất: 1) Phương pháp kỹ thuật đòi hỏi sự kết hợp của các chuyên gia kỹ thuật nghiên cứu thời gian thao tác công việc để định lượng nguyên liệu và lao động hao phí cần thiết sản xuất sản phẩm với điều kiện hiện có của doanh nghiệp (công nghệ, năng lực quản lý, nguồn nhân lực); 2) Phương pháp phân tích số liệu lịch sử xem xét chi phí và giá thành của kỳ trước cùng với những thay đổi của kỳ này để xây dựng định mức chi phí cho kỳ tương lai; 3) Phương pháp điều chỉnh dùng để điều chỉnh chi phí định mức cho phù hợp với điều kiện hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp [48]. Krumwiede (2009), “Reward and realities of German Cost Accounting”, Strategic Finance, Apr. 86, page 26-34: nghiên cứu về chi phí và các mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung của kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp Liên bang Đức. Trong đó, các bộ phận sử dụng chi phí được nhận diện là các 9 trung tâm chi phí để kiểm soát và điều chỉnh.
Các chi phí phát sinh được phân nhóm, phân bổ, tính toán linh hoạt trên cơ sở các hệ số điều chỉnh. Đồng thời, đã xác định trong quá trình phân bổ chi phí có thể sử dụng các mô hình phân bổ sau: 1) Mô hình sử dụng một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất (ví dụ như chi phí nhân công) để phân bổ chi phí chung cho từng loại sản phẩm, dịch vụ; 2) Mô hình phân bổ chi phí chung theo bộ phận: Kế toán sử dụng nhiều tiêu chuẩn phân bổ khác nhau phù hợp với bản chất của các công việc được thực hiện ở từng bộ phận (trung tâm chi phí). Mô hình này cho phép xác định giá phí của từng loại dịch vụ, sản phẩm một cách chính xác hơn nhưng lại gặp khó khăn khi các sản phẩm đa dạng về tính chất, kích cỡ, quy trình sản xuất [57]. * Ở Châu Á: sau chiến tranh thế giới thứ 2, cùng với sự phát triển của các trường phái quản trị theo kiểu Nhật Bản, kế toán quản trị chi phí được hình thành để phục vụ cho nhu cầu thông tin của các nhà quản trị doanh nghiệp.
Các phương pháp kế toán quản trị chi phí Nhật Bản nổi bật là chi phí mục tiêu (Target costing) và phương pháp chi phí Kaizen (Kaizen costing) đã được các doanh nghiệp Nhật Bản như công ty TOYOTA, HONDA,. ứng dụng thành công trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học qua các công trình: - Yoshikawa Takeo và nnk, “Japanese management accounting:a comparative survey”, Management Accounting, Nov, Vol. 10, Page 20 [68]; - Gagne và nnk (1993), “New product costing, Japanese style”, The CPA Journal, May, Vol.
5, Page 68-70 [51]; - Howell và nnk (1992), “Management accounting lesson from the Japanese”, Management Accounting, Dec, Vol. 6, Page 28-34 [54]; - Akira Nishimura (2000), “Implications of Target Costing and its international application”, International Journal of Accounting Literature, Vol. 51-71 [61]; Các công trình nghiên cứu nêu trên đã tổng kết các nội dung của trường phái quản trị chi phí của Nhật Bản, trọng tâm của các phương pháp kế toán quản trị chi phí này là gắn chi phí với mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh và sự tiết kiệm chi phí đến mức mong muốn được thực hiện từ khâu thiết kế, sản xuất với quan điểm “luôn thay đổi cho tốt hơn”. Do vậy, nếu kế toán quản trị chi phí của giai đoạn trước và của khu vực Hoa Kỳ, Châu Âu chú trọng đến sử dụng chi phí phát sinh, thì các phương pháp quản trị chi phí 10 trường phái Nhật Bản lại hướng tới mục tiêu tiết kiệm chi phí thông qua hoạt động cải tiến liên tục (cả về phương pháp quản lí, công nghệ sản xuất, môi trường sản xuất,.) để có thể cắt giảm chi phí cho phù hợp, đảm bảo sự cạnh tranh về chi phí cho các sản phẩm dịch vụ tạo ra.
Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng và tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp. - Jonas Gerdin (2005) “Management accounting system design in manufacturing departments: an empirical investigation using a multiple contingencies approach”, Accounting, Organizations and Societ, Vol.2, Page 99-126: Trình bày nội dung nghiên cứu thiết kế, tổ chức kế toán quản trị phù hợp với điều kiện cụ thể của các doanh nghiệp. Tác giả đã chỉ ra các nhân tố tác động đến việc tổ chức hệ thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp, bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Để phân tích các nhân tố tác động bên trong doanh nghiệp đến lựa chọn mô hình kế toán quản trị, tác giả đã khảo sát 126 doanh nghiệp thuộc các ngành nghề kinh doanh khác nhau trên thế giới và đã khẳng định được ảnh hưởng của hai nhân tố bên trong doanh nghiệp tác động trực tiếp đến thiết kế kế toán quản trị là: bộ máy quản lý (cấu trúc tổ chức) và sự tác động lẫn nhau giữa các phòng ban chức năng trong doanh nghiệp [52].
- Michèle Pomberg và nnk (2012), “Management accounting information systems:a case of a developing country Vietnam”, Asia-Pacific Journal of Accounting & Economics, Apr, Vol. 1, Page 100-114: Nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả khảo sát tại 53 bệnh viện tại thành phố Hà Nội và 9 tỉnh lân cận đưa ra kết luận về các nhân tố: môi trường hoạt động, sự thay đổi của các chính sách Nhà nước về y tế, những thay đổi về tổ chức của hệ thống y tế, nhu cầu thông tin về chi phí của các CFO,… đã đòi hỏi các bệnh viện Việt Nam cần phải ứng dụng các lý thuyết quản trị cao cấp trong quản lí điều hành. Nhóm nghiên cứu cũng đã tìm hiểu về khả năng áp dụng hệ thống kế toán quản trị chi phí vào các nước đang phát triển, đã đưa ra kết luận nghiên cứu về điều kiện tổ chức áp dụng các phương pháp quản trị chi phí hiện đại như phương pháp Activity - Based Cost (ABC), Just in time (JIT) vào các bệnh viện Việt Nam là cần thiết và phù hợp [66]. - Akira Nishimura (Đại học Beppu, Nhật Bản và Đại học Otago, New Zealand) có các công trình nghiên cứu giai đoạn 2003-2007 gồm: + Akira Nishimura (2003), “Comparative Study of Asian Management 11 Accounting”, Monograph of Asian Management Accounting Forum in Japan, 2003; [62] + Akira Nishimura (2004), “Enterprise Governance and Management Accounting from the Viewpoint of Feed-forward Control”, Review of Business & Commerce, Vol.
Các công trình nghiên cứu đã trình bày quan điểm của ông về sự phát triển của kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng trên thế giới qua 4 giai đoạn: 1. Kế toán quản trị sơ khai, 2.