Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Tội buôn lậu trên địa bàn miền Đông Nam Bộ Việt Nam hiện nay: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đăng Phú thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2021), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Phương Hoa, thuộc chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm (mã số: 9.05).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế, tình trạng buôn lậu diễn biến phức tạp về quy mô, phương thức và thủ đoạn. Nền sản xuất nội địa còn mất cân đối, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường về lượng, chất và giá cả, kết hợp cùng những kẽ hở trong quản lý nhà nước đã tạo điều kiện cho các đối tượng buôn lậu trục lợi. Miền Đông Nam Bộ là trung tâm kinh tế phát triển nhất cả nước, bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Tây Ninh; chiếm 18,5% dân số cả nước (khoảng 17,8 - 17,9 triệu người trên diện tích 23.564,4 km²), đóng góp trên 2/3 tổng thu ngân sách quốc gia và có tỷ lệ đô thị hóa đạt 62,8%. Với hệ thống hạ tầng giao thông đa dạng gồm đường bộ, đường thủy, cảng biển nước sâu và cảng hàng không quốc tế, khu vực này trở thành địa bàn trọng điểm mà tội phạm buôn lậu lợi dụng.
Mặc dù các cơ quan chức năng đã triển khai nhiều chủ trương, văn bản chỉ đạo (như Quyết định số 389/QĐ-TTg, Nghị quyết số 41/NQ-CP, Chỉ thị số 17/CT-TTg, Nghị quyết số 111/2015/QH13), tình hình tội buôn lậu tại miền Đông Nam Bộ vẫn tồn tại diễn biến phức tạp, độ ẩn cao, xuất hiện nhiều đường dây có tổ chức quy mô lớn và có sự tiếp tay của một số cán bộ thoái hóa biến chất. Khoảng trống nghiên cứu thực tiễn đặt ra là chưa có công trình tội phạm học nào khảo sát toàn diện, có hệ thống cả phần hiện và phần ẩn, chỉ rõ các quy luật vận động, nguyên nhân điều kiện đặc thù và xây dựng mô hình phòng ngừa chuyên biệt cho toàn vùng miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn 10 năm (2011 – 2020).
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là đánh giá, phân tích tình hình tội buôn lậu, làm rõ nguyên nhân và điều kiện phát sinh, từ đó kiến giải hệ thống các giải pháp phòng ngừa tội buôn lậu phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của miền Đông Nam Bộ.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu lý luận và pháp luật: Thu thập, nghiên cứu các công trình lý luận tội phạm học về tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện và phòng ngừa tội buôn lậu; rà soát quy định pháp luật hình sự và chính sách phòng chống buôn lậu.
- Nghiên cứu thực tế: Thu thập, xử lý, phân tích số liệu thống kê xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân các cấp qua nguồn dữ liệu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao từ năm 2011 đến năm 2020; khảo sát các bản án sơ thẩm điển hình trên địa bàn.
- Nghiên cứu sáng tạo: Làm rõ các thông số thực trạng, cơ cấu, diễn biến, tính chất và phần ẩn của tình hình tội buôn lậu; chỉ ra nguyên nhân, điều kiện đặc thù; phân tích hạn chế trong công tác phòng ngừa thực tiễn và thiết lập hệ thống giải pháp phòng ngừa có tính khả thi.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu trung tâm: Làm thế nào để hạn chế, khắc phục tình hình tội buôn lậu trên địa bàn các tỉnh, thành phố thuộc miền Đông Nam Bộ?
Ba nhóm câu hỏi nghiên cứu cụ thể được đặt ra:
- Nhóm 1 (Tình hình tội buôn lậu): Cơ sở lý luận nào dùng để đánh giá thông số lượng và chất? Thực trạng, cơ cấu, diễn biến, tính chất trong phần rõ giai đoạn 2011 – 2020 diễn ra như thế nào? Mức độ ẩn, nguyên nhân ẩn và phương pháp xác định phần ẩn ra sao?
- Nhóm 2 (Nguyên nhân, điều kiện): Cách phân loại nguyên nhân, điều kiện nào phù hợp? Những nguyên nhân, điều kiện chung và đặc thù (địa lý, kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, tâm lý, pháp luật, quản lý, hạn chế nghiệp vụ) tác động đến tội buôn lậu tại miền Đông Nam Bộ là gì? Có sự khác biệt nào giữa các tỉnh, thành trong vùng?
- Nhóm 3 (Giải pháp phòng ngừa): Khung lý luận và hệ thống chủ thể, biện pháp phòng ngừa gồm những gì? Thực trạng tổ chức, triển khai và những hạn chế của công tác phòng ngừa là gì? Cần áp dụng hệ thống giải pháp nào để nâng cao hiệu quả phòng ngừa?
Bốn giả thuyết nghiên cứu tương ứng:
- Hệ thống tri thức lý luận tội phạm học Mác-xít chính thống tại Việt Nam là nền tảng hoàn chỉnh để ứng dụng vào nghiên cứu một loại tội cụ thể trên một địa bàn kinh tế trọng điểm.
- Tình hình tội buôn lậu tại miền Đông Nam Bộ diễn biến phức tạp, chưa có xu hướng giảm ổn định và có độ ẩn cao do đặc thù phân hóa vai trò đối tượng (bắt người vận chuyển, khó bắt chủ hàng), sự điều chỉnh của Bộ luật Hình sự 2015 tách hành vi liên quan hàng cấm/hàng giả, và hành vi tiếp tay của cán bộ tha hóa.
- Nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm tại địa bàn gắn liền với các quy luật kinh tế thị trường, vị trí cửa ngõ giao thương và những bất cập quản lý chưa từng được nghiên cứu tổng thể.
- Hoạt động phòng ngừa hiện tại còn nhiều bất cập, đòi hỏi phải huy động đồng bộ sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng chuyên trách.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, học thuyết khoa học về nguyên nhân, điều kiện và phòng ngừa tội phạm; tình hình tội buôn lậu và mối quan hệ biện chứng với các hiện tượng kinh tế - xã hội; quy luật hoạt động của tội buôn lậu và số liệu truy cứu, xét xử trên địa bàn.
- Phạm vi không gian: 06 tỉnh, thành phố thuộc miền Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ năm 2011 đến năm 2020.
- Phạm vi tội danh: Tội buôn lậu theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đối chiếu với các quy định tương ứng trong BLHS 1985 (Điều 97), BLHS 1999 (Điều 153).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã điểm lại
Luận án tiến hành tổng thuật hai nhóm tài liệu chính ở trong nước và quốc tế:
-
Nghiên cứu lý luận tội phạm học và phòng ngừa tội phạm nước ngoài:
- Các công trình lý luận nền tảng: E. Stiller (1971), Kudriavsev / V. Kudrjacev (1974), Buchholz E., John Lekschas, Richard Hartmann (1982) nghiên cứu tội phạm học Mác-Lênin, xác định môi trường xã hội giữ vai trò quyết định nguyên nhân tội phạm; Susan Geason và Paul Wilson (1988) về triệt tiêu điều kiện phạm tội; Can Ueda (1989) về sự tham gia của toàn bộ hệ thống xã hội; Tim Newbukin (1998) về phòng chống tội phạm tình huống và cộng đồng; Dasetakob (2006); Hans Dieter Schwind (2007) về phương pháp luận tội phạm học thực tế; Inshakov (2011) về phương pháp phân tích tội phạm ẩn; Frank Schmalleger (2012) về tính liên ngành của tội phạm học.
- Các công trình về tội buôn lậu quốc tế: Richard Platt (2012) về lịch sử chống buôn lậu tại Anh; Marko Hajdinjak (2002) về mạng lưới buôn lậu tại Đông Nam châu Âu thời kỳ chiến tranh Nam Tư; Hallam Stuck (2019) về tội phạm qua biên giới; định nghĩa buôn lậu của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO, Nairobi 1997).
-
Nghiên cứu tội phạm học và tội buôn lậu tại Việt Nam:
- Lý luận tội phạm học: Võ Khánh Vinh (1994, 2014), Võ Khánh Vinh và Đào Trí Úc (2000), Lê Văn Tới (2000), Nguyễn Xuân Yêm (2001), Phạm Văn Tỉnh (2007), Dương Tuyết Miên (2013), Võ Thị Kim Oanh và Lê Nguyên Thanh (2014), Lê Thị Sơn cùng nhóm tác giả Đại học Luật Hà Nội (2015).
- Công trình chuyên sâu về buôn lậu: Nguyễn Đức Bình (2000) về tội buôn lậu theo Điều 97 BLHS 1985; Hoàng Xuân Chiến (2000) về phòng ngừa buôn lậu tuyến biên giới đất liền của Bộ đội Biên phòng (1993 – 1999); Đỗ Đình Hòa (2001) về hoạt động điều tra của Cảnh sát nhân dân (1994 – 1999); Nguyễn Đăng Phú (2004) về đấu tranh phòng chống buôn lậu tại TP.HCM (1997 – 2003); Nguyễn Văn Tuấn (2013) về chuyên án trinh sát của Cảnh sát kinh tế; Nguyễn Quốc Đoàn (2013) về phối hợp giữa Cảnh sát kinh tế và Bộ đội Biên phòng tuyến biên giới Việt – Trung; Nguyễn Thành Long (2015) về phòng chống buôn lậu tuyến biên giới Tây Nam (2003 – 2013).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận ở các tuyến biên giới riêng biệt (biên giới Việt – Trung, tuyến Tây Nam), theo góc độ nghiệp vụ chuyên ngành của từng lực lượng (Biên phòng, Cảnh sát kinh tế), hoặc chỉ nghiên cứu phạm vi một tỉnh/thành phố trong giai đoạn trước năm 2015. Hầu hết các nghiên cứu chưa làm rõ nguyên nhân, điều kiện và chưa có cách tiếp cận đa chiều về phần ẩn của tội buôn lậu trên toàn vùng kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ – nơi kết hợp cả cửa khẩu đường bộ quốc tế, cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế và trung tâm tiêu thụ hàng hóa lớn nhất nước. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo sát toàn diện 10 năm (2011 – 2020) theo hướng liên ngành tội phạm học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng hệ thống lý luận tội phạm học Mác-xít Việt Nam, trong đó tiếp cận khái niệm tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực, mang tính pháp lý - hình sự, tính lịch sử và tính giai cấp, bao gồm tổng thể thống nhất các tội phạm xảy ra trong không gian và thời gian xác định. Khung phân tích tội phạm học được triển khai qua 4 thông số cơ bản:
- Mức độ (thực trạng)
- Cơ cấu
- Diễn biến
- Tính chất (kết hợp phân tích phần rõ và phần ẩn)
Khung nguyên nhân và điều kiện được tiếp cận đa tầng: từ điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục, tâm lý xã hội đến hệ thống pháp luật, quản lý xã hội và hiệu quả hoạt động của các cơ quan chức năng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin để xem xét tội buôn lậu trong mối quan hệ hữu cơ với các quá trình xã hội. Các phương pháp cụ thể bao gồm:
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Xuyên suốt toàn bộ các nội dung để luận giải quy luật từ thực tế xét xử.
- Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp: Xử lý chuỗi dữ liệu định lượng 10 năm về số vụ, số bị cáo, tỷ trọng cơ cấu hành chính, giới tính, độ tuổi, dân tộc.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu thông số giữa các địa phương trong vùng và giữa miền Đông Nam Bộ với quy mô toàn quốc.
- Phương pháp hệ thống và lịch sử cụ thể: Đặt dữ liệu tội phạm trong bối cảnh thay đổi chính sách pháp luật hình sự (BLHS 1999 so với BLHS 2015).
- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng bảng hỏi cấu trúc gồm câu hỏi đóng và mở khảo sát các chủ thể chuyên trách phòng chống buôn lậu nhằm thu thập dữ liệu định tính về phương thức hoạt động, nguyên nhân và đánh giá độ ẩn của tội phạm.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội buôn lậu giai đoạn 2011 – 2020 của Tòa án nhân dân các cấp do Viện kiểm sát nhân dân tối cao quản lý.
- Hồ sơ, bản án hình sự sơ thẩm tại các tỉnh, thành phố miền Đông Nam Bộ.
- Số liệu thống kê dân số và diện tích từ Tổng cục Thống kê / Ủy ban Dân số năm 2019.
- Dữ liệu khảo sát thực tế (Phụ lục 1, 2, 3 của luận án).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án
Chương này hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về tội phạm học đại cương, lý luận tội buôn lậu và công tác phòng ngừa. Tác giả khẳng định việc kế thừa các quan điểm chính thống của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; xác định rõ 3 nhóm câu hỏi và 4 giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương nội dung tiếp theo.
Chương 2: Tình hình tội buôn lậu trên địa bàn miền Đông Nam Bộ Việt Nam
Tác giả phân tích cụ thể các thông số lượng và chất trong phần rõ và phần ẩn của tội buôn lậu giai đoạn 2011 – 2020:
1. Mức độ (thực trạng) và diễn biến:
Trong 10 năm (2011 – 2020), toàn vùng phát hiện và xét xử sơ thẩm 151 vụ án với 357 bị cáo phạm tội buôn lậu. Tỷ lệ trung bình đạt khoảng 2,36 người/vụ, phản ánh tính chất đồng phạm và tổ chức cao. Năm có số vụ cao nhất là 2014 (23 vụ); năm có số bị cáo bị xử lý cao nhất là 2018 (49 người). Tội buôn lậu chiếm 7,47% tổng số vụ và 9,68% tổng số người phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Chương XVIII BLHS) tại khu vực.
Bảng 1: Số vụ và số người phạm tội buôn lậu trên địa bàn miền Đông Nam Bộ (2011 – 2020)
| Năm |
Số vụ |
Số người phạm tội |
| 2011 |
21 |
40 |
| 2012 |
21 |
38 |
| 2013 |
12 |
25 |
| 2014 |
23 |
38 |
| 2015 |
14 |
36 |
| 2016 |
18 |
41 |
| 2017 |
7 |
18 |
| 2018 |
15 |
49 |
| 2019 |
12 |
37 |
| 2020 |
8 |
35 |
| Tổng cộng |
151 |
357 |
(Nguồn: Số liệu Viện kiểm sát nhân dân tối cao do tác giả tổng hợp)
2. Cơ cấu theo đơn vị hành chính và so sánh toàn quốc:
So với cả nước, miền Đông Nam Bộ chiếm 21,18% về số vụ và 26,88% về số người phạm tội buôn lậu. Tuy nhiên, sự phân bố nội vùng có sự chênh lệch sâu sắc giữa các địa phương có đường biên/cảng biển với các địa bàn nội địa.
Bảng 2: Cơ cấu tội buôn lậu theo đơn vị hành chính tại miền Đông Nam Bộ (2011 – 2020)
| Đơn vị hành chính |
Số vụ |
Tỷ trọng (%) |
Số người phạm tội |
| Tây Ninh |
71 |
47,02% |
152 |
| TP. Hồ Chí Minh |
69 |
45,70% |
188 |
| Bình Phước |
8 |
5,30% |
12 |
| Bà Rịa – Vũng Tàu |
2 |
1,32% |
4 |
| Bình Dương |
1 |
0,66% |
1 |
| Đồng Nai |
0 |
0,00% |
0 |
| Tổng vùng Đông Nam Bộ |
151 |
100,00% |
357 |
(Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Hệ số và cấp độ nguy hiểm:
- Tây Ninh có hệ số người phạm tội trên dân số cao nhất (13 người/100.000 dân), xếp thứ 1 về cấp độ nguy hiểm chung.
- TP. Hồ Chí Minh có mật độ người phạm tội trên diện tích cao nhất (0,08974 người/km²; khoảng 2 người/100.000 dân), xếp thứ 2 về cấp độ nguy hiểm.
- Các tỉnh Bình Phước (hạng 3), Bà Rịa - Vũng Tàu (hạng 4), Bình Dương (hạng 5) và Đồng Nai (hạng 0). Sự vắng bóng số liệu xử lý tại Đồng Nai và con số rất thấp tại Bà Rịa – Vũng Tàu (nơi buôn lậu xăng dầu trên biển diễn biến tinh vi) cho thấy tỷ lệ ẩn rất cao.
3. Cơ cấu theo đặc điểm nhân thân:
- Giới tính: Nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 84,31% (do đặc điểm sức khỏe, vai trò trụ cột kinh tế, tính chất liều lĩnh và tham gia mang vác, cửu vạn); nữ giới chiếm 15,69%.
- Độ tuổi: Người trên 30 tuổi chiếm 75,53% tổng số người phạm tội (đây là nhóm có độc lập kinh tế, kinh nghiệm sống, hiểu biết thị trường); lứa tuổi từ 18 đến 30 chiếm 23,63%; dưới 18 tuổi chiếm tỷ lệ rất nhỏ là 0,84%.
- Thành phần dân tộc: Người dân tộc Kinh chiếm 99,12%; các dân tộc khác chiếm 0,88%.
4. Phần ẩn của tình hình tội buôn lậu:
Tội buôn lậu có độ ẩn lớn do các thủ đoạn hợp thức hóa chứng từ hải quan điện tử, lợi dụng loại hình tạm nhập tái xuất, trung chuyển qua cảng biển và vận chuyển qua đường mòn biên giới. Việc phân tách tội danh trong BLHS 2015 khiến các hành vi buôn bán hàng cấm, hàng giả qua biên giới không còn được tính vào thống kê tội buôn lậu.
Chương 3: Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn miền Đông Nam Bộ Việt Nam
Tác giả phân loại và phân tích 6 nhóm nguyên nhân, điều kiện:
- Đặc điểm địa lý, tự nhiên: Tuyến biên giới đường bộ dài giáp Campuchia với nhiều đường mòn, lối mở (Tây Ninh, Bình Phước); hệ thống cảng biển nước sâu và sông ngòi chằng chịt (sông Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông); sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với lưu lượng hành khách, hàng hóa lớn.
- Kinh tế - xã hội: Sự chênh lệch giá cả hàng hóa giữa thị trường trong nước và quốc tế tạo siêu lợi nhuận; nhu cầu tiêu thụ hàng ngoại giá rẻ cao tại các đô thị; tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn biên giới tạo lực lượng vận chuyển thuê ("cửu vạn").
- Văn hóa, giáo dục và tâm lý xã hội: Thói quen chuộng hàng ngoại của một bộ phận người tiêu dùng; trình độ học vấn và nhận thức pháp luật hạn chế của cư dân vùng biên giới.
- Pháp luật: Quy định pháp luật kinh tế, hải quan, thương mại còn sơ hở, chồng chéo; việc chuyển đổi cấu thành tội danh giữa BLHS 1999 và BLHS 2015 tạo khoảng trống trong xử lý hành vi vận chuyển trái phép.
- Quản lý xã hội: Bất cập trong quản lý doanh nghiệp xuất nhập khẩu (thành lập doanh nghiệp "ma"), quản lý kho bãi, cảng cạn ICD và thủ tục hải quan luồng xanh/luồng vàng.
- Hạn chế trong hoạt động phòng ngừa: Lực lượng chuyên trách (Hải quan, Công an, Biên phòng, Quản lý thị trường) còn mỏng so với địa bàn; trang thiết bị kiểm tra giám sát chưa đáp ứng yêu cầu; công tác phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ; một bộ phận cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc tha hóa, tiếp tay cho buôn lậu.
Chương 4: Phòng ngừa tình hình tội buôn lậu trên địa bàn miền Đông Nam Bộ Việt Nam
Luận án xây dựng hệ thống phòng ngừa toàn diện:
- Xác định chủ thể: Cơ quan Đảng, chính quyền các cấp chỉ đạo; các lực lượng chuyên trách làm nòng cốt (Công an, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Quản lý thị trường); các tổ chức chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân tham gia.
- Sáu nhóm giải pháp cụ thể:
- Hạn chế tác động từ đặc điểm địa lý, tự nhiên: Tăng cường trạm kiểm soát cố định và lưu động trên các tuyến sông, cửa khẩu Mộc Bài, Xa Mát, các cảng biển Sài Gòn, Cái Mép - Thị Vải.
- Khắc phục nguyên nhân kinh tế - xã hội: Tạo việc làm, chuyển đổi sinh kế cho cư dân biên giới; kiểm soát bình ổn giá thị trường nội địa.
- Khắc phục nguyên nhân văn hóa, giáo dục và tâm lý: Đẩy mạnh cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", tuyên truyền pháp luật hải quan và hình sự cho cư dân biên giới.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Sửa đổi, hướng dẫn thống nhất các điều khoản định tội danh tại Điều 188 BLHS; hoàn thiện quy trình kiểm tra hải quan điện tử và chế tài xử lý vi phạm thương mại.
- Nâng cao hiệu lực quản lý xã hội: Siết chặt quản lý đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu, giám sát chặt chẽ hàng hóa quá cảnh, tạm nhập tái xuất và các kho hàng nội địa.
- Nâng cao năng lực lực lượng chuyên trách: Tăng cường trang thiết bị kỹ thuật soi chiếu hiện đại; hoàn thiện cơ chế phối hợp thông tin liên ngành; siết chặt kỷ luật nội bộ, xử lý nghiêm cán bộ tiêu cực, thoái hóa.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và bổ sung lý luận tội phạm học về tình hình tội buôn lậu tại một vùng kinh tế động lực liên kết đa phương thức giao thông (đường không, đường biển, đường sông, đường bộ).
- Làm sáng tỏ các thuộc tính định lượng và định tính của tội buôn lậu qua chuỗi dữ liệu 10 năm; phân tích bản chất của phần ẩn tội phạm buôn lậu trong bối cảnh thực thi Bộ luật Hình sự mới.
- Xây dựng mô hình phân loại nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội buôn lậu gắn với cơ chế kinh tế thị trường mở và hội nhập quốc tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh, chân thực về thực trạng xét xử tội buôn lậu trên 6 tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ giai đoạn 2011 – 2020 với 151 vụ và 357 bị cáo.
- Phát hiện những nghịch lý thực tiễn như tỷ lệ khởi tố xét xử bằng 0 tại Đồng Nai hoặc quá thấp tại Bà Rịa – Vũng Tàu, từ đó cảnh báo về độ ẩn tội phạm tại các khu công nghiệp và vùng biển.
- Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp phòng ngừa đồng bộ, có tính ứng dụng trực tiếp cho Ban Chỉ đạo 389 quốc gia và các cấp ủy, chính quyền địa phương miền Đông Nam Bộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Nguồn dữ liệu xét xử chủ yếu phản ánh phần hiện của tội phạm; số liệu định lượng về tội phạm ẩn trên tuyến biển (như buôn lậu xăng dầu) và đường hàng không gặp khó khăn trong việc đo lường tuyệt đối do hạn chế nghiệp vụ phát hiện của các cơ quan chức năng. Phạm vi khảo sát dừng lại ở năm 2020.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tình hình tội buôn lậu giai đoạn hậu đại dịch COVID-19 và trong bối cảnh thương mại điện tử xuyên biên giới, logistics số bùng nổ; nghiên cứu chuyên sâu về buôn lậu công nghệ cao và dòng tiền rửa tiền từ hoạt động buôn lậu quốc tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho:
- Cơ quan quản lý và thực thi pháp luật: Ban Chỉ đạo 389 các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Cục Hải quan TP.HCM, Cục Hải quan Tây Ninh, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (Cảnh sát kinh tế), Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng và Tòa án các cấp trong việc xây dựng kế hoạch nghiệp vụ, bố trí lực lượng và phối hợp liên ngành.
- Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Tham khảo hoàn thiện các văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 188 BLHS 2015 và các quy định về quản lý thương mại biên giới.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Tội phạm học, Luật Hình sự tại Học viện Khoa học Xã hội, Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP.HCM, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân tham khảo phương pháp tiếp cận định lượng và xử lý số liệu tội phạm học vùng.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong giai đoạn 2011 – 2020, địa phương nào tại miền Đông Nam Bộ có số vụ buôn lậu bị xử lý nhiều nhất?
Tây Ninh là địa phương có số vụ buôn lậu bị đưa ra xét xử sơ thẩm nhiều nhất với 71 vụ (chiếm 47,02% tổng số vụ toàn vùng), tiếp theo là Thành phố Hồ Chí Minh với 69 vụ (chiếm 45,70%). Hai địa phương này chiếm tới 92,72% tổng số vụ buôn lậu bị xử lý của toàn miền Đông Nam Bộ.
2. Tỷ trọng của tội buôn lậu so với toàn bộ các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tại khu vực là bao nhiêu?
Trong 10 năm khảo sát, tội buôn lậu chiếm tỷ lệ 7,47% về số vụ (151 vụ) và 9,68% về số người phạm tội (357 người) trong tổng số các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Chương XVIII BLHS) xảy ra trên địa bàn miền Đông Nam Bộ.
3. Cơ cấu nhân thân của người phạm tội buôn lậu trong luận án có đặc điểm gì nổi bật?
Về giới tính, nam giới chiếm áp đảo với 84,31% (nữ giới chiếm 15,69%). Về độ tuổi, người trên 30 tuổi chiếm đa số tuyệt đối với 75,53% (nhóm 18 – 30 tuổi chiếm 23,63%; nhóm dưới 18 tuổi chỉ chiếm 0,84%). Về thành phần dân tộc, người Kinh chiếm 99,12%, các dân tộc khác chiếm 0,88%.
4. Tại sao tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu có số liệu xét xử tội buôn lậu rất ít hoặc bằng 0 trong suốt 10 năm?
Tại Đồng Nai (0 vụ), nguyên nhân do địa bàn không có biên giới trên bộ, hàng hóa chủ yếu làm thủ tục hải quan nội địa. Tại Bà Rịa – Vũng Tàu (2 vụ, 4 người), hoạt động buôn lậu chủ yếu là xăng dầu trên vùng biển rộng với thủ đoạn tinh vi (dùng biển số giả, hoán cải tàu hậu cần thủy sản, chuyển vùng trên biển), lực lượng tuần tra mỏng gây khó khăn lớn trong việc bắt quả tang và xác định yếu tố pháp lý "vận chuyển qua biên giới", dẫn đến độ ẩn tội phạm đặc biệt cao.
5. Việc áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 ảnh hưởng như thế nào đến việc thống kê tội buôn lậu?
Theo BLHS 1999, hành vi buôn bán hàng cấm và hàng giả qua biên giới thường bị xử lý chung về tội buôn lậu. Tuy nhiên, BLHS 2015 (sửa đổi 2017) đã tách bạch, quy định các hành vi này xử lý theo tội danh độc lập (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm hoặc Tội sản xuất, buôn bán hàng giả) với tình tiết định khung tăng nặng "buôn bán qua biên giới", làm thay đổi cơ cấu số liệu thống kê tội buôn lậu thuần túy.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đăng Phú là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện dưới góc độ tội phạm học về tình hình tội buôn lậu tại địa bàn kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn 2011 – 2020. Dựa trên nguồn dữ liệu xét xử thực tế của 151 vụ án và 357 bị cáo, tác giả đã làm rõ các thông số vận động về lượng và chất, phân tích sâu sắc các yếu tố làm gia tăng độ ẩn tội phạm. Luận án chỉ ra hệ thống nguyên nhân, điều kiện bắt nguồn từ vị trí cửa ngõ giao thương, chênh lệch cung cầu kinh tế và những kẽ hở trong quản lý nhà nước, quản lý hải quan. Hệ thống 6 nhóm giải pháp phòng ngừa được đề xuất có tính đồng bộ, góp phần thiết thực vào công tác đấu tranh chống buôn lậu và bảo đảm an ninh kinh tế tại khu vực phía Nam.