Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp: tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa" do tác giả Đào Trung Hiếu thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Hữu Tráng. Luận án được bảo vệ năm 2021 tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, thuộc chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm (mã số: 93.105).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Phương thức kinh doanh đa cấp (Multi-level Marketing) xuất hiện đầu tiên tại Mỹ vào những năm đầu thế kỷ XX (do nhà hóa học Karl Rendorg khởi xướng trong giai đoạn 1927 - 1934) và được thừa nhận tại hơn 170 quốc gia. Tại Việt Nam, phương thức này du nhập từ năm 1998 và được ghi nhận chính thức trong hành lang pháp lý qua Luật Cạnh tranh năm 2004, Nghị định số 110/2005/NĐ-CP, Nghị định số 42/2014/NĐ-CP và Nghị định số 40/2018/NĐ-CP. Bên cạnh các đóng góp nhất định cho phân phối bán lẻ, hoạt động này đã nảy sinh nhiều biến tướng phức tạp. Thủ đoạn lợi dụng mô hình đa cấp để lừa đảo chiếm đoạt tài sản tạo nên những hệ quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế và an ninh trật tự xã hội.

Bản chất của các mô hình đa cấp bất chính là hoạt động theo mô hình kim tự tháp, lấy tiền của người tham gia sau chi trả cho người tham gia trước và duy trì hệ thống, hoàn toàn không tạo ra giá trị gia tăng từ hoạt động lưu thông hàng hóa thực tế. Khi mạng lưới không còn khả năng tuyển dụng người mới, hệ thống tất yếu đổ vỡ, dẫn đến việc người phạm tội chiếm đoạt tài sản của các thành viên tuyến dưới với quy mô đặc biệt lớn. Điển hình trong giai đoạn 2011 - 2020 là vụ án tại Công ty Liên Kết Việt (chiếm đoạt hơn 1.000 tỷ đồng của khoảng 66.880 người tham gia) hay vụ án tại Công ty TNHH nhượng quyền thương mại Thăng Long (chiếm đoạt hơn 706 tỷ đồng của khoảng 36.000 người tham gia). Cùng với sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các hành vi phạm tội tiếp tục chuyển hóa sang các hình thức phức tạp như đầu tư tài chính online, tiền ảo, vàng ảo, sàn giao dịch ngoại hối và nhượng quyền thương mại trên không gian mạng.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng các công trình đã công bố trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận kinh doanh đa cấp dưới góc độ Kinh tế học, Khoa học quản lý, Luật Hành chính hoặc Luật Thương mại nhằm hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước. Cho đến thời điểm đề tài được thực hiện, chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống và toàn diện về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp trên cả ba bình diện: tình hình tội phạm, nguyên nhân - điều kiện và hệ thống giải pháp phòng ngừa.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua việc tiếp cận trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp, góp phần hoàn thiện lý luận và đề xuất các giải pháp phòng ngừa tình hình tội này tại Việt Nam trong những năm tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm bốn nội dung cụ thể:

  1. Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước về các vấn đề có liên quan đến đề tài luận án, nhằm kế thừa và xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;
  2. Thứ hai, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam; phân tích các thông số về thực trạng, diễn biến, cơ cấu và tính chất để đánh giá thực tiễn tình hình tội này trong 10 năm (giai đoạn 2011 - 2020);
  3. Thứ ba, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam;
  4. Thứ tư, dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp và đề xuất các giải pháp nhằm phòng ngừa tình hình tội này trong những năm tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp; nguyên nhân, điều kiện và giải pháp phòng ngừa tình hình tội này tại Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Điều 174 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xảy ra trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp; đồng thời xem xét mối liên hệ với các tội danh có liên quan như Điều 217a (Vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp) và Điều 290 (Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn trong khoảng thời gian 10 năm, từ năm 2011 đến hết năm 2020.
  • Phạm vi đối tượng khảo sát: Người phạm tội, người bị hại, các nhóm xã hội tham gia mạng lưới kinh doanh đa cấp, các cơ quan ban hành giải pháp (Chính phủ, Bộ Công thương...) và các cơ quan thực thi pháp luật phòng ngừa tội phạm (Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, cơ quan Quản lý thị trường...).
  • Phạm vi không gian/địa bàn: Khảo sát trên địa bàn toàn quốc, tập trung vào các đô thị lớn là địa bàn trọng điểm diễn ra hoạt động kinh doanh đa cấp biến tướng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành các nhóm chuyên biệt:

Các nghiên cứu nước ngoài

  • Về lý luận tình hình tội phạm và nguyên nhân - điều kiện: Paul Lafargue với tác phẩm "Crime situation in France from 1840 to 1886 - Dynamics and causes" (đặt nền tảng cho Tội phạm học Mác-xít qua việc nghiên cứu tình hình tội phạm gắn với điều kiện kinh tế - xã hội suốt 47 năm); Melinikova E.B với chuyên khảo "Why did they commit crimes? The state of juvenile delinquency in capitalist countries" (phân tích nguyên nhân từ phân tầng xã hội, thu nhập và hoàn cảnh sống); Mus Ekrem (2007) với luận án tiến sĩ "Examining Violent and Property Crimes in the Provinces of Turkey for the Years of 2000 and 2007" (chỉ ra hoàn cảnh kinh tế là chỉ báo đối với tội phạm sở hữu); Hennessy Hayes và Tim Prenzler với sách "An introduction to Crime and Criminology" (tiếp cận tội phạm từ khía cạnh nạn nhân học và chính sách pháp luật).
  • Về phòng ngừa tội phạm: Minkovskij G.M (chủ biên) với "Justification of crime prevention" (luận giải tính đồng bộ và sự phối hợp giữa các biện pháp chung và chuyên ngành dưới sự lãnh đạo của nhà nước); Can Ueda với "Crime and Criminology in Japan" (bản chất phòng ngừa là làm suy yếu yếu tố thuận lợi và tăng cường yếu tố đối kháng); Lawrence A. Sherman với "Preventing Crime: What Works, What Doesn't, What's Promising" (phương pháp đánh giá hiệu quả chương trình phòng ngừa); Brandon C. Welsh và David P. Farrington với "The Oxford Handbook of Crime Prevention" (ưu tiên phòng ngừa sớm để triệt tiêu các điều kiện phát sinh tội phạm).
  • Về kinh doanh đa cấp và tội phạm lừa đảo: Richard Poe (2003) với "Làn sóng thứ ba - kỷ nguyên mới trong ngành kinh doanh theo mạng"; Don và Nancy Failla (2003) với "Kinh doanh theo mạng từ A đến Z"; Kathryn A. Jones (2013) với "Amway Forever"; Dan Farrell với "Multilevel Marketing - Good or Bad"; Aneta (2010) với "Recognition and Reporting of Insurance Fraud in Comparison to Property Crimes"; Nykodym và Kahle-Piasecki với "Cyber crime and business: How not to caught by the online phisherman" (nghiên cứu lừa đảo Ponzi và huy động vốn đa cấp trên mạng); Catherine H. và Thomas M. Ewen với "Computer Crime" (phân tích hành vi gian dối qua thiết bị số và dữ liệu máy tính).

Các nghiên cứu trong nước

  • Về lý luận Tội phạm học: Giáo trình Tội phạm học (2013) của GS.TS Võ Khánh Vinh; các công trình nghiên cứu của GS.TS Đào Trí Úc, PGS.TS Lê Thế Tiệm, PGS.TS Phạm Tự Phả, PGS.TS Phạm Văn Tỉnh; quan điểm của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, PGS.TS Trần Hữu Tráng, PGS.TS Dương Tuyết Miên, TS Đỗ Ngọc Quang, TS Lê Thị Sơn và tập thể tác giả Trường Đại học Luật Hà Nội về định nghĩa tình hình tội phạm, thông số đo lường, phân loại tội phạm rõ - tội phạm ẩn và nguyên nhân xã hội.
  • Về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Luận án tiến sĩ của Lê Quang Thành (2016) về lừa đảo do người nước ngoài thực hiện; Bùi Thị Lan Hương (2018) về tội lừa đảo trên địa bàn miền Đông Nam Bộ; Lê Đăng Doanh (2008) về đấu tranh phòng chống tội lừa đảo ở Việt Nam; luận văn thạc sĩ của Tạ Thùy Châu (2017) tại TP. Hồ Chí Minh và Trần Thị Phương Hiền (2007).
  • Về phương thức kinh doanh đa cấp: Luận án tiến sĩ Luật học của Lê Bí Bo (2016) về quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp; Đề tài nghiên cứu của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng - Bộ Công thương (2005); luận văn của Hà Ngọc Sơn (2006); bài báo của Bùi Trung Thướng (2015), Trần Thị Bảo Ánh (2006); các bài báo khoa học chuyên ngành của tác giả Đào Trung Hiếu công bố trên Tạp chí Cảnh sát, Tạp chí Công an nhân dân và Tạp chí Kiểm sát trong các năm 2018, 2019, 2020.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các công trình trước đây chưa giải quyết các vấn đề sau:

  1. Thiếu khung lý thuyết hoàn chỉnh và hệ thống khái niệm công cụ về tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp;
  2. Chưa có công trình nào khảo sát, bóc tách và phân tích toàn diện các thông số thực trạng, động thái, cơ cấu, tính chất và mức độ ẩn của loại tội phạm này trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2011 - 2020;
  3. Chưa tiếp cận nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện và cơ chế hình thành hành vi phạm tội từ góc độ liên ngành (kết hợp tội phạm học, kinh tế học, tâm lý học và nạn nhân học);
  4. Chưa xây dựng được hệ thống giải pháp chuyên biệt, đồng bộ kết hợp giữa quản lý hành chính, nghiệp vụ tư pháp và cơ chế tự phòng ngừa của người dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

  • Hệ thống lý thuyết nền tảng: Luận án vận dụng lý thuyết Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm; lý thuyết Luật học so sánh; lý thuyết Xã hội học tội phạm; lý thuyết Tâm lý học tội phạm; lý thuyết về Tự do cạnh tranh; lý thuyết về Hợp đồng. Phương pháp luận dựa trên Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các đường lối, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
  • Khái niệm công cụ:
    • Lĩnh vực kinh doanh đa cấp: Là phạm vi các hoạt động từ đầu tư đến cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ trên thị trường bằng phương thức kinh doanh đa cấp (dựa trên nguyên lý chia sẻ và phát triển mạng lưới theo cấp số nhân).
    • Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp: Hành vi cấu thành tội phạm theo Điều 139 BLHS 1999 hoặc Điều 174 BLHS 2015, có khách thể là quyền sở hữu tài sản của người tham gia mạng lưới; mặt khách quan gồm hành vi gian dối (đưa thông tin sai lệch về doanh nghiệp, cam kết lãi suất/hoa hồng ảo nhằm phát triển mạng lưới) xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt tài sản (dịch chuyển tiền của người tham gia sau khi nộp tiền hoặc đánh sập hệ thống, bỏ trốn); mặt chủ quan là lỗi cố ý trực tiếp với mục đích vụ lợi; chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
    • Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp: Là một hiện tượng xã hội tiêu cực, biểu hiện thông qua tổng thể các hành vi phạm tội và chủ thể thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định trong BLHS bằng thủ đoạn sử dụng phương thức kinh doanh đa cấp gian dối, bất chính, trên một địa bàn và trong một khoảng thời gian nhất định.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xác lập ba nhóm câu hỏi nghiên cứu (về mặt lý thuyết, thực tiễn và giải pháp) và ba giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  • Giả thuyết 1: Chưa có lý luận riêng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp cũng như lý luận riêng về phòng ngừa loại tội này.
  • Giả thuyết 2: Chưa có công trình làm rõ thực tiễn tình hình, nguyên nhân - điều kiện và thực trạng phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.
  • Giả thuyết 3: Cần có hệ thống giải pháp mang tính khoa học, đồng bộ và khả thi để phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam trong những năm tiếp theo.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  1. Phương pháp hệ thống, nghiên cứu tài liệu: Thu thập, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ án, báo cáo tổng kết của các ngành chức năng (sử dụng tại Chương 1, 2, 3).
  2. Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích: Xây dựng biểu mẫu số liệu về các vụ án, bị cáo, số vụ xử phạt vi phạm hành chính để đánh giá mức độ, diễn biến (sử dụng tại Chương 2, 3, 4).
  3. Phương pháp so sánh: So sánh tình hình tội phạm này với tình hình tội lừa đảo chung, tội phạm sở hữu và giữa các địa bàn đô thị - nông thôn (sử dụng tại Chương 2).
  4. Phương pháp nghiên cứu điển hình: Mổ xẻ các vụ án lớn đã xét xử (như Liên Kết Việt, Thăng Long...) để làm rõ nhân thân, phương thức thủ đoạn và cơ chế nạn nhân (sử dụng tại Chương 2, 3).
  5. Phương pháp khảo sát thực tế: Khảo sát các mô hình biến tướng mới trên mạng internet và tổ chức lực lượng phòng ngừa (sử dụng tại Chương 2, 4).
  6. Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng bảng hỏi đối với các nhóm dân cư (đô thị, nông thôn, sinh viên, người dùng mạng xã hội, người tham gia đa cấp) và người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán), người phạm tội. Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm thống kê SPSS/PC (sử dụng tại Chương 2, 3).
  7. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đánh giá thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm từ báo cáo nghiệp vụ (sử dụng tại Chương 4).
  8. Phương pháp phỏng vấn ý kiến chuyên gia: Trao đổi với các nhà khoa học và cán bộ thực tiễn chuyên trách (sử dụng tại Chương 3, 4).

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn dữ liệu thực chứng được tác giả thu thập trực tiếp từ: Cục C01, C02, C03, A05 (Bộ Công an); Công an các tỉnh, thành phố (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Phú Thọ, Bắc Giang, Bắc Ninh, Nghệ An, Cần Thơ, Đắk Lắk, Tây Ninh); Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin (VKSND Tối cao); Vụ Tổng hợp (TAND Tối cao); Văn phòng TAND TP. Hà Nội; Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công thương); cùng hồ sơ các bản án hình sự sơ thẩm và kết quả khảo sát bảng hỏi.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tập trung hệ thống hóa toàn diện các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm: lý luận Tội phạm học, nghiên cứu pháp lý hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và nghiên cứu về kinh doanh đa cấp cùng các biến tướng bất chính. Trên cơ sở đánh giá những kết quả đã đạt được và chỉ ra các điểm còn thiếu đồng bộ, hạn chế về dữ liệu thực chứng và giải pháp trong các công trình trước đó, tác giả khẳng định việc thực hiện luận án là cần thiết. Đồng thời, chương 1 xác lập khung lý thuyết nền tảng, hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học định hướng cho toàn bộ đề tài.

Chương 2: Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam

Chương 2 làm sáng tỏ các khái niệm lý luận về lĩnh vực kinh doanh đa cấp, đặc điểm cấu thành pháp lý hình sự của tội phạm, xác định bốn đặc điểm của tình hình tội phạm (hiện tượng xã hội tiêu cực, tính lịch sử, tính giai cấp, có giới hạn không gian - thời gian) và bốn thông số phản ánh (thực trạng, động thái, cơ cấu, tính chất), cùng mức độ ẩn của tội phạm (được xác định ở Cấp độ II theo thang bốn cấp độ của GS.TS Đào Trí Úc).

Về mặt thực chứng, tác giả tổng hợp và phân tích chi tiết số liệu tội phạm trong giai đoạn 2011 - 2020:

Năm Số vụ án xét xử sơ thẩm Số người phạm tội Tỷ lệ biến động theo năm gốc 2011 (Vụ / Người)
2011 02 06 Gốc (100% / 100%)
2012 01 03 Giảm 50% / Giảm 50%
2013 02 05 Giữ nguyên / Giảm 16,67%
2014 01 04 Giảm 50% / Giảm 33,34%
2015 03 07 Tăng 50% / Tăng 16,66%
2016 02 06 Giữ nguyên / Giữ nguyên
2017 02 07 Giữ nguyên / Tăng 16,66%
2018 02 06 Giữ nguyên / Giữ nguyên
2019 03 07 Tăng 50% / Tăng 16,66%
2020 03 08 Tăng 50% / Tăng 33,33%
Tổng cộng 21 59 Bình quân: 2,1 vụ/năm; 5,9 người/năm

Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu thống kê của luận án (giai đoạn 2011 - 2020)

Khi so sánh tương quan với tổng thể tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung:

  • Xét theo Điều 139 BLHS 1999: Có 18 vụ với 47 bị cáo trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp trên tổng số 22.054 người phạm tội lừa đảo chung (chiếm 0,08% số vụ và 0,16% số người).
  • Xét theo Điều 174 BLHS 2015: Có 03 vụ với 12 bị cáo trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp trên tổng số 1.583 vụ và 1.849 người phạm tội lừa đảo chung (chiếm 0,18% số vụ và 0,64% số người).

Tác giả cũng bóc tách các vụ án kinh doanh đa cấp bất chính được định tội danh công nghệ cao:

  • Xét theo Điều 226b BLHS 1999: Có 17 vụ (chiếm 7,11%) với 35 bị cáo (chiếm 11,55%) trên tổng số 239 vụ và 303 người phạm tội.
  • Xét theo Điều 290 BLHS 2015: Có 06 vụ (chiếm 7,05%) với 14 bị cáo (chiếm 8,38%) trên tổng số 85 vụ và 167 người phạm tội.
  • Xét theo Điều 217a BLHS 2015: Chưa xét xử vụ án nào trong giai đoạn nghiên cứu.

Về tình hình xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) do Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng thực hiện, tổng số có 142 vụ bị xử lý từ năm 2011 đến 2020 (năm 2011: 2 vụ; 2012: 4 vụ; 2013: 3 vụ; 2014: 14 vụ; 2015: 18 vụ; 2016: 18 vụ; 2017: 19 vụ; 2018: 41 vụ; 2019: 10 vụ; 2020: 13 vụ). Các doanh nghiệp bị phạt tiền lớn gồm: Công ty TNHH Thiên Sư Việt Nam (585 triệu đồng), Công ty New Image Việt Nam (250 triệu đồng), Công ty Người lái xe mặt trời Việt Nam (370 triệu đồng), Công ty Morinda Việt Nam (605 triệu đồng và thu hồi giấy phép), Công ty CP Liên kết Việt Nam (250 triệu đồng), Công ty TNHH MTV Thương mại Mỹ Lợi (710 triệu đồng), Công ty Thăng Long (bị xử phạt 460 triệu đồng năm 2016 trước khi bị xử lý hình sự năm 2017).

Về cơ cấu địa bàn phạm tội trong 21 vụ án hình sự:

  • Khu vực đô thị: Xảy ra 19 vụ (chiếm 90,47%) với 52 bị cáo (chiếm 88,13%).
  • Khu vực nông thôn, miền núi: Xảy ra 02 vụ (chiếm 9,52%) với 7 bị cáo (chiếm 11,86%). Về cơ cấu thủ đoạn: Huy động vốn đầu tư dự án chiếm 5 vụ (23,33%), kinh doanh dịch vụ chiếm 3 vụ, cùng các thủ đoạn thương mại điện tử, sàn tiền ảo và hàng hóa tiêu dùng kém chất lượng.

Chương 3: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp

Chương này phân tích cơ chế hình thành tội phạm thông qua sự tương tác giữa các yếu tố xã hội khách quan và yếu tố chủ quan của cá nhân người phạm tội, cùng với điều kiện hoàn cảnh tình huống và vai trò của nạn nhân:

  • Yếu tố xã hội tiêu cực khách quan: Những hạn chế, sơ hở và thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật điều chỉnh phương thức kinh doanh đa cấp; bất cập trong cơ chế quản lý nhà nước; sự thiếu chặt chẽ trong khâu cấp phép, giám sát hoạt động hậu kiểm; sự phối hợp giữa Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng với Sở Công thương các địa phương và các cơ quan chức năng còn rời rạc; chế tài xử lý vi phạm hành chính chưa đủ sức răn đe.
  • Đặc điểm nhân thân và tâm lý người phạm tội: Lối sống thực dụng, động cơ tư lợi cao, cố ý lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội để tổ chức mô hình chiếm đoạt tài sản tinh vi.
  • Khía cạnh Nạn nhân học: Sự nhẹ dạ cả tin, hạn chế về nhận thức pháp luật và kiến thức tài chính, cùng với tâm lý hám lợi nhuận cao, muốn làm giàu nhanh chóng của một bộ phận người dân; tâm lý đám đông và áp lực lôi kéo từ người thân quen trong mạng lưới quan hệ xã hội.

Chương 4: Giải pháp phòng ngừa tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam

Chương 4 hệ thống hóa cơ sở lý luận về phòng ngừa tội phạm theo đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đánh giá thực trạng kết quả và những hạn chế của hoạt động phòng ngừa trong giai đoạn 2011 - 2020. Trên cơ sở dự báo tình hình tội phạm tiếp tục diễn biến phức tạp trên không gian mạng và các mô hình tài chính ảo, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm:

  1. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý kinh doanh đa cấp, pháp luật hình sự và quy định quản lý tài sản số, tiền ảo, giao dịch điện tử;
  2. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của Bộ Công thương, cơ quan Quản lý thị trường và chính quyền các cấp; thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ trong thanh tra, kiểm tra và chia sẻ thông tin;
  3. Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Công an nhân dân (Cơ quan Cảnh sát điều tra, lực lượng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) trong phát hiện, điều tra, xử lý kịp thời các dấu hiệu phạm tội;
  4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua báo chí và truyền thông đại chúng; chú trọng giải pháp phòng ngừa xã hội từ phía nạn nhân, nâng cao kỹ năng nhận diện thủ đoạn lừa dối cho người dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được các kết quả và đóng góp mới cụ thể sau:

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xây dựng hệ thống lý luận chuyên biệt trong Tội phạm học về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp;
  • Làm rõ khái niệm, các đặc điểm pháp lý hình sự cấu thành tội phạm và phân định ranh giới pháp lý với các tội danh liên quan (Điều 217a và Điều 290 BLHS năm 2015);
  • Định nghĩa khái niệm tình hình tội phạm này, xác lập hệ thống các thông số phản ánh (thực trạng, động thái, cơ cấu, tính chất, độ ẩn) và bổ sung lý luận về Nạn nhân học và phòng ngừa tội phạm kinh tế - sở hữu.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng, động thái, cơ cấu và tính chất của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong kinh doanh đa cấp tại Việt Nam qua dữ liệu 10 năm (2011 - 2020) với 21 vụ án và 59 bị cáo bị xử lý hình sự;
  • Làm sáng tỏ các thủ đoạn biến tướng, mô hình huy động vốn đa cấp bất chính, đồng thời đánh giá thực trạng 142 vụ xử phạt vi phạm hành chính trong cùng giai đoạn;
  • Phân tích sâu sắc các nguyên nhân - điều kiện từ phía quản lý nhà nước, cơ chế phối hợp liên ngành, tâm lý người phạm tội và yếu tố thúc đẩy nạn nhân tham gia hệ thống;
  • Đưa ra dự báo khoa học về xu hướng chuyển dịch của tội phạm sang không gian mạng và các sản phẩm số, đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa mang tính khả thi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực tiễn trong mốc thời gian 10 năm (2011 - 2020) và chỉ tập trung vào các vụ án đã có bản án xét xử sơ thẩm hoặc có số liệu thống kê chính thức. Do đặc thù của tội phạm ẩn và sự phát triển quá nhanh của các phương thức lừa đảo sử dụng công nghệ cao, tài sản mã hóa xuyên biên giới, việc thu thập thông tin về phần ẩn của tội phạm chỉ mang tính ước lượng tương đối thông qua khảo sát xã hội học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu, theo dõi diễn biến tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo phương thức đa cấp gắn với các mô hình công nghệ tài chính mới (Fintech, sàn ngoại hối Forex trái phép, tiền mã hóa, tài chính phi tập trung) trong giai đoạn sau năm 2020; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tương trợ tư pháp quốc tế và hợp tác xuyên quốc gia trong việc phong tỏa, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt qua mạng internet.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật học và Tội phạm học: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị về phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành trong nghiên cứu tội phạm học; cung cấp phương pháp luận kết hợp giữa thống kê tư pháp và điều tra xã hội học định lượng (sử dụng SPSS/PC).
  • Đối với giảng viên, cơ sở đào tạo: Cung cấp nguồn học liệu phục vụ giảng dạy các chuyên đề về Tội phạm học, Luật Hình sự, Nạn nhân học và Khoa học điều tra tội phạm.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công thương, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, cơ quan Quản lý thị trường): Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát lỗ hổng chính sách, hoàn thiện các quy định quản lý hoạt động kinh doanh đa cấp và nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án): Hỗ trợ cán bộ thực tiễn nhận diện chính xác dấu hiệu cấu thành tội phạm, phân biệt tội danh giữa Điều 174, Điều 217a và Điều 290 BLHS 2015, từ đó nâng cao chất lượng công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và xây dựng kế hoạch phòng ngừa nghiệp vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án chỉ ra điểm khác biệt bản chất giữa kinh doanh đa cấp hợp pháp và kinh doanh đa cấp bất chính/lừa đảo là gì?

Kinh doanh đa cấp hợp pháp là phương thức bán lẻ hàng hóa trực tiếp đến người tiêu dùng qua mạng lưới nhiều cấp, tạo ra giá trị gia tăng từ việc lưu thông sản phẩm có chất lượng tương xứng. Ngược lại, kinh doanh đa cấp bất chính/lừa đảo chỉ mượn danh nghĩa kinh doanh để thu tiền của người tham gia, lấy tiền của người vào sau trả hoa hồng cho người vào trước (mô hình Ponzi), phân phối hàng hóa ảo hoặc giá trị thấp, và hệ thống sẽ sụp đổ khi không còn người tham gia mới.

2. Trong giai đoạn 2011 - 2020, cả nước đã xét xử sơ thẩm bao nhiêu vụ án và bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp?

Theo số liệu thống kê thu thập trong luận án, cả nước đã đưa ra xét xử sơ thẩm 21 vụ án với 59 người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp, đạt bình quân 2,1 vụ và 5,9 bị cáo mỗi năm.

3. Tại sao một số vụ việc lừa đảo đa cấp trong giai đoạn nghiên cứu lại được định tội danh theo Điều 226b BLHS 1999 hoặc Điều 290 BLHS 2015 thay vì tội lừa đảo thông thường?

Do hành vi phạm tội gắn liền với việc ứng dụng công nghệ cao, kinh doanh các sản phẩm thông tin số (tiền ảo, vàng tài khoản, gian hàng ảo), tạo lập hệ thống thanh toán điện tử giả mạo hoặc can thiệp kỹ thuật vào hệ thống mạng máy tính để chiếm đoạt tài sản. Trong 10 năm nghiên cứu, có 17 vụ (35 bị cáo) được xét xử theo Điều 226b BLHS 1999 và 6 vụ (14 bị cáo) theo Điều 290 BLHS 2015 liên quan đến kinh doanh đa cấp.

4. Mức độ ẩn của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp được luận án xếp vào cấp độ nào?

Dựa theo thang phân loại 4 cấp độ tội phạm ẩn của GS.TS Đào Trí Úc, tác giả xác định mức độ ẩn của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp thuộc nhóm Cấp độ II.

5. Những vụ án điển hình nào được phân tích để làm rõ quy mô thiệt hại của loại tội phạm này?

Hai vụ án điển hình được phân tích sâu là vụ án tại Công ty Liên Kết Việt (với khoảng 66.880 người tham gia, số tiền bị chiếm đoạt hơn 1.000 tỷ đồng) và vụ án tại Công ty TNHH nhượng quyền thương mại Thăng Long (với khoảng 36.000 người tham gia, số tiền bị chiếm đoạt hơn 706 tỷ đồng).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Trung Hiếu là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp luận Mác-xít với các phương pháp nghiên cứu liên ngành và xử lý số liệu thực chứng giai đoạn 2011 - 2020, luận án đã làm rõ bức tranh tình hình tội phạm, chỉ ra các nguyên nhân - điều kiện từ phía quản lý xã hội và đặc điểm nạn nhân học. Hệ thống giải pháp phòng ngừa được đề xuất có giá trị thực tiễn đối với công tác hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và định hướng hoạt động nghiệp vụ cho các cơ quan bảo vệ pháp luật trong thời kỳ phát triển kinh tế số.