Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu: Chương này tác giả sẽ trình bày một số nội dung chung nhất như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, một số đóng góp mới của luận án cũng như cấu trúc của luận án. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu: Trong chương này tác giả sẽ trình bày tổng quan khung lý thuyết về hiệu ứng tràn chính sách tiền tệ; cụ thể gồm các khái niệm, các lý thuyết về hiệu ứng tràn, các kênh dẫn tác động tràn chính sách tiền tệ quốc tế. Thêm vào đó, trong chương này tác giả sẽ thực hiện việc lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến hiệu ứng tràn chính sách tiền tệ quốc tế để chỉ ra khoảng trống cho nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Chương này tác giả thực hiện phát triển các giả thuyết nghiên cứu dựa trên lược khảo những lý thuyết kinh tế liên quan cũng như các kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả ngoài nước và trong nước đã thực hiện trước đó.
Tiếp theo, tác giả đề xuất các mô hình nghiên cứu, mô tả về các biến, phương pháp đo lường các biến được đề xuất trong các mô hình, nguồn dữ liệu cũng như các phương pháp thực hiện để đo lường hiệu ứng tràn của chính sách tiền tệ Hoa Kỳ đến thị trường tài chính và nền kinh tế thực của các quốc gia ASEAN(5). Cuối cùng, là giới thiệu lý thuyết liên quan đến phương pháp hồi quy được áp dụng. 12 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này tác giả sẽ trình bày những kết quả khảo sát, phân tích về đặc điểm chính sách tiền tệ Hoa Kỳ và quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ với các quốc gia ASEAN(5).
Đồng thời, tác giả sẽ trình bày các kết quả thống kê mô tả đối với các biến được phân tích trong mô hình. Ngoài ra, tác giả sẽ phân tích một số kiểm định thống kê liên quan đến mô hình nghiên cứu. Cuối cùng, tác giả trình bày và thảo luận các kết quả của hồi quy phân tích về hiệu ứng tràn từ chính sách tiền tệ Hoa Kỳ đến thị trường các quốc gia ASEAN(5). Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách: Từ các kết quả nghiên cứu được tìm thấy và thảo luận trong chương 4 tác giả thực hiện tổng kết lại những kết quả đạt được của luận án.
Ngoài ra, cũng dựa trên các kết quả nghiên cứu này tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách cần thực hiện phù hợp đối với các quốc gia ASEAN(5). 13 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Chính sách tiền tệ và hiệu ứng tràn của chính sách tiền tệ Khái niệm chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ là tổng hòa những phương thức mà ngân hàng Trung ương thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định (Sử Đình Thành, 2006). Theo tác giả Lê Thị Mận (2014), chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra. Như vậy, các cách thức tiếp cận về chính sách tiền tệ đều đề cập đến chính sách liên quan đến hành động can thiệp của ngân hàng Trung ương thông qua việc quản lý cung tiền và lãi suất nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Cụ thể, mục tiêu của chính sách tiền tệ bao gồm kiểm soát lạm phát, tạo công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế (Sử Đình Thành, 2006). Khái niệm hiệu ứng tràn: Hiệu ứng tràn (spillover) là khái niệm được sử dụng để đánh giá sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence) giữa các nền kinh tế. Sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence) này có nghĩa là các sự kiện hay cú sốc dù là của toàn cầu hay từng quốc gia, có thể lan truyền sang các quốc gia khác bởi vì các nền kinh tế thường có các mối quan hệ về tài chính và thương mại với nhau. Nói cách khác, hiệu ứng tràn có nghĩa là sự lan truyền các biến động của thị trường từ quốc gia này sang quốc gia khác (Abou-Zaid, 2011).
Hiệu ứng tràn (spillover) đề cập đến sự lan truyền của những biến động thị trường từ quốc gia này sang quốc gia khác, một quá trình được quan sát thông qua sự giảm giá cổ phiếu, tỷ giá hối đoái hoặc dòng vốn (Dornbusch và Claessens, 2000). Đối với các nghiên cứu về hiệu ứng tràn chính sách tiền tệ đã được nhiều tác giả thực hiện, phạm vi phân tích đánh giá hiệu ứng tràn tương đối rộng, không chỉ đối với các yếu tố thuộc thị trường tài chính mà còn cả về nền kinh tế thực, vì lý do này, luận án sử dụng khái niệm Hiệu ứng tràn của chính sách tiền tệ là tác động của chính sách tiền tệ của một quốc gia đến các biến số vĩ mô của các quốc gia khác như sản lượng, lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá chứng khoán,… 14 Ý tưởng chung về hiệu ứng tràn chính sách tiền tệ quốc tế đã tồn tại khá lâu kể từ khi các công trình tiên phong của Mundell (1963) và Fleming (1962). Những phân tích của họ sau đó được mở rộng bởi Dornbusch (1976), cho thấy các kênh khác nhau mà qua đó các ngoại tác có thể truyền từ nước này sang nước khác. Hai dự đoán cơ bản của các mô hình Mundell-Fleming-Dornbusch là hiệu ứng chuyển dịch chi tiêu (Expenditure-shifting effect) và hiệu ứng nhu cầu trong nước (Expenditure-increasing effect) như là các kênh của sự lan tỏa chính sách tiền tệ quốc tế.
Lập luận đầu tiên phát biểu rằng, việc nới lỏng tiền tệ của một quốc gia dẫn đến tình trạng mất giá tỷ giá hối đoái, điều này dẫn đến cải thiện trong cán cân thương mại và kéo theo sản lượng ở trong nước gia tăng, đồng thời tác động ngược lại đối với các quốc gia đối tác. Lập luận thứ hai đặt ra rằng, việc nới lỏng tiền tệ tương tự sẽ làm tăng nhu cầu trong nước (thông qua chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư), làm tăng nhập khẩu trong nước (vốn là xuất khẩu của quốc gia đối tác), khiến cán cân thương mại trong nước của nước sở tại xấu đi và sẽ ảnh hưởng ngược lại đối với các quốc gia đối tác.2 Các lý thuyết liên quan về hiệu ứng tràn chính sách tiền tệ 2.1 Mô hình Mudell - Fleming Giả định một quốc gia nhỏ theo nghĩa phải đối mặt với lãi suất thế giới nhất định và nguồn cung nhập khẩu co giãn hoàn hảo ở một mức giá nhất định tính theo ngoại tệ. Sản lượng trong nước có nguồn cung hoàn toàn co giãn ở một mức giá danh nghĩa nhất định. Tổng chi tiêu của cư dân trong nước E, phụ thuộc vào thu nhập và lãi suất, trong khi cơ cấu chi tiêu giữa hàng hóa trong nước và hàng nhập khẩu phụ thuộc vào giá tương đối của những hàng hóa này, trong bối cảnh hiện tại, có thể được xác định bằng tỷ giá hối đoái.
Cầu nước ngoài đối với hàng hóa trong nước hoặc xuất khẩu chỉ là một hàm của các điều khoản thương mại hoặc tỷ giá hối đoái. Với những giả định này, có thể viết điều kiện cân bằng của thị trường hàng hóa ở nước sở tại như sau: y = E(i, y) + T(e, y), Ei < 0, Ey = 1- s > 0 Te > 0 Ty = - m < 0 (1) Trong đó y biểu thị sản lượng trong nước, i là lãi suất trong nước, T thặng dư cán cân thương mại và e là tỷ giá hối đoái được định nghĩa là giá nội tệ của các ngoại tệ. 15 Cân bằng thị trường tài sản ở nước sở tại sẽ được thảo luận trên thị trường tiền tệ. Cầu về tiền là một hàm của thu nhập, lãi suất và cân bằng tiền tệ phải bằng với lượng cung tiền hiện có L : L = L(i, y), Li < 0, Ly = > 0 (2) Chứng khoán trong nước và nước ngoài được coi là những sản phẩm thay thế hoàn hảo.
Do đó, chênh lệch giá trên thị trường chứng khoán ngụ ý rằng lãi suất trong nước sẽ bằng với lãi suất nước ngoài đã cho, i*, i=i* (3) Việc thay thế (3) vào (1) và (2) cho phép biểu thị quá trình cân bằng thị trường đối với hàng hóa và tiền ở nước sở tại.1, theo Mundell (1968), quá trình X X cho thấy sự kết hợp của tỷ giá hối đoái và mức sản lượng mà thị trường hàng hóa làm sáng tỏ.1: Mối quan hệ giữa tỷ giá và sản lƣợng Nguồn: Mundell (1968) Mức sản lượng cao hơn sẽ tạo ra cung hàng hóa dư thừa vì xu hướng chi tiêu cận biên < 1. Do đó, phải đi kèm với sự sụt giá tỷ giá hối đoái để cải thiện cán cân thương mại và chuyển hướng cầu sang hàng hóa trong nước. Vì vậy, độ dốc dương của quá trình X X phản ánh giả định rằng điều kiện Marshali- Lemer giữ nguyên, Te > 0. Quá 16 trình L L thay đổi phản ánh trạng thái cân bằng tiền tệ.
Tùy thuộc vào lãi suất đưa ra, có một mức thu nhập cụ thể mà tại đó thị trường tiền tệ rõ ràng. Điểm cân bằng ban đầu đạt được tại điểm A với tỷ giá hối đoái e0 và mức sản lượng y0. Xem xét ảnh hưởng của sự gia tăng cung tiền. Tại mức thu nhập cân bằng ban đầu sẽ có dư cung tiền và để khôi phục trạng thái cân bằng tiền tệ ở mức lãi suất đã cho, thu nhập sẽ phải tăng lên y’.
Điều này được phản ánh trong việc thay đổi lịch trình L L sang L L ’. Quá trình điều chỉnh về trạng thái cân bằng mới tại điểm C có thể được thực hiện theo cách lượng tiền cung ứng dư thừa tại điểm A sẽ gây ra sự sụt giảm lãi suất ngay lập tức và dòng vốn chảy ra sẽ làm giảm tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái giảm giá đến lượt nó làm tăng cầu hàng hóa trong nước và làm cho thu nhập tăng lên cho đến khi cầu tiền phù hợp với cung tiền cao hơn. Tương ứng với mức thu nhập cao hơn tại điểm C, xảy ra thặng dư thương mại, vì mức tăng thu nhập không tương ứng với mức tăng hấp thụ hoặc chi tiêu tương đương.