Luận Án Tiến Sĩ: Tác Động Của Quản Trị Tri Thức Đến Kết Quả Hoạt Động Của Các Doanh Nghiệp Việt Nam

Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu tác động của quản trị tri thức tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp việt nam, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất

Chuyên ngành

Quản trị nhân lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

225
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tri thức và phân loại tri thức

1.2. Quản trị tri thức

1.3. Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức

1.4. Quá trình quản trị tri thức

1.5. Kết quả hoạt động

1.6. Các lý thuyết nền tảng

1.7. Quan điểm dựa trên nguồn lực

1.8. Quan điểm dựa trên tri thức

1.9. Mối quan hệ giữa năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và quá trình quản trị tri thức tới kết quả hoạt động

1.10. Mối quan hệ giữa năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và kết quả hoạt động

1.11. Mối quan hệ giữa quá trình quản trị tri thức và kết quả hoạt động

1.12. Mối quan hệ giữa năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và quá trình quản trị tri thức trong doanh nghiệp

1.13. Khoảng trống nghiên cứu

1.14. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.14.1. Mô hình nghiên cứu

1.14.2. Giả thuyết nghiên cứu

1.15. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Thang đo nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng

2.4. Thiết kế bảng hỏi khảo sát

2.5. Diễn đạt và mã hóa lại thang đo

2.6. Các thông tin về đối tượng khảo sát

2.7. Chọn mẫu và thu thập dữ liệu

2.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả kiểm định thang đo

3.2. Các biến độc lập

3.3. Các biến phụ thuộc

3.4. Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu

3.5. Thông tin về đối tượng khảo sát

3.6. Các biến trong mô hình nghiên cứu

3.7. Phân tích tương quan

3.8. Phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương nhỏ nhất

3.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

4.1. Kết luận và thảo luận kết quả nghiên cứu

4.2. Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức

4.3. Quá trình quản trị tri thức

4.4. Đóng góp của luận án

4.4.1. Đóng góp về lý luận

4.4.2. Đóng góp về thực tiễn

4.5. Hạn chế của Luận án

4.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Quản trị tri thức và hiệu quả doanh nghiệp

Quản trị tri thức được xem là yếu tố then chốt trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc quản lý và tối ưu hóa tri thức giúp doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững. Tác động quản trị tri thức không chỉ dừng lại ở việc cải thiện quy trình nội bộ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh. Các doanh nghiệp tại Việt Nam đang dần nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý tri thức trong bối cảnh kinh tế số. Việc áp dụng các chiến lược quản trị hiệu quả giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao năng suất.

1.1. Vai trò của quản trị tri thức

Quản trị tri thức đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì lợi thế cạnh tranh. Nghiên cứu của Nonaka và Takeuchi (1995) chỉ ra rằng, việc chuyển giao và chia sẻ tri thức giúp doanh nghiệp tạo ra sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao. Hiệu quả doanh nghiệp được cải thiện thông qua việc áp dụng tri thức vào quy trình sản xuất và quản lý. Các doanh nghiệp tại Việt Nam cần chú trọng vào việc xây dựng hệ thống quản lý thông tin hiệu quả để tối ưu hóa hoạt động kinh doanh.

1.2. Tác động của quản trị tri thức đến doanh nghiệp

Tác động quản trị tri thức đến hiệu quả doanh nghiệp được thể hiện qua việc cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu của Gold và cộng sự (2001) chỉ ra rằng, các doanh nghiệp áp dụng quản lý tri thức hiệu quả thường đạt được kết quả kinh doanh vượt trội. Doanh nghiệp tại Việt Nam cần tập trung vào việc phát triển năng lực quản trị tri thức để đối mặt với thách thức trong bối cảnh kinh tế toàn cầu.

II. Chiến lược quản trị tri thức tại Việt Nam

Chiến lược quản trị tri thức đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển doanh nghiệp tại Việt Nam. Các doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống quản lý tri thức toàn diện, bao gồm việc thu thập, chia sẻ và ứng dụng tri thức. Tối ưu hóa doanh nghiệp thông qua quản trị tri thức giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo ra giá trị bền vững. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc áp dụng các công nghệ hiện đại trong quản lý thông tin giúp doanh nghiệp cải thiện quy trình và tăng cường khả năng cạnh tranh.

2.1. Xây dựng năng lực quản trị tri thức

Việc xây dựng năng lực quản trị tri thức là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tại Việt Nam cần đầu tư vào việc đào tạo nhân lực và phát triển hệ thống công nghệ thông tin. Quản lý tri thức hiệu quả giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình và nâng cao chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu của Wong và Aspinwall (2005) chỉ ra rằng, việc áp dụng các công cụ quản trị tri thức giúp doanh nghiệp cải thiện năng suất và tăng cường khả năng cạnh tranh.

2.2. Ứng dụng công nghệ trong quản trị tri thức

Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý thông tin và tri thức. Các doanh nghiệp tại Việt Nam cần áp dụng các giải pháp công nghệ hiện đại để tối ưu hóa quy trình quản trị tri thức. Tối ưu hóa doanh nghiệp thông qua việc sử dụng công nghệ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo ra giá trị bền vững. Nghiên cứu của Alavi và Leidner (2001) chỉ ra rằng, việc áp dụng công nghệ thông tin giúp doanh nghiệp cải thiện quy trình và tăng cường khả năng cạnh tranh.

III. Phát triển doanh nghiệp thông qua quản trị tri thức

Phát triển doanh nghiệp thông qua quản trị tri thức là xu hướng tất yếu trong bối cảnh kinh tế hiện đại. Các doanh nghiệp tại Việt Nam cần tập trung vào việc xây dựng hệ thống quản lý tri thức toàn diện để nâng cao hiệu quả doanh nghiệp. Việc áp dụng các chiến lược quản trị hiệu quả giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn lực và tạo ra giá trị bền vững. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc quản lý tri thức hiệu quả giúp doanh nghiệp cải thiện quy trình và tăng cường khả năng cạnh tranh.

3.1. Tối ưu hóa quy trình quản trị tri thức

Tối ưu hóa doanh nghiệp thông qua việc quản lý tri thức giúp nâng cao hiệu quả doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tại Việt Nam cần tập trung vào việc cải thiện quy trình quản trị tri thức để đạt được kết quả kinh doanh tốt hơn. Quản lý thông tin hiệu quả giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình và nâng cao chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu của Mills và Smith (2011) chỉ ra rằng, việc áp dụng các công cụ quản trị tri thức giúp doanh nghiệp cải thiện năng suất và tăng cường khả năng cạnh tranh.

3.2. Nâng cao hiệu quả doanh nghiệp

Nâng cao hiệu quả doanh nghiệp thông qua quản trị tri thức là mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Việc áp dụng các chiến lược quản trị hiệu quả giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn lực và tạo ra giá trị bền vững. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc quản lý tri thức hiệu quả giúp doanh nghiệp cải thiện quy trình và tăng cường khả năng cạnh tranh. Doanh nghiệp tại Việt Nam cần tập trung vào việc phát triển năng lực quản trị tri thức để đối mặt với thách thức trong bối cảnh kinh tế toàn cầu.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ tác động của quản trị tri thức tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tri thức và phân loại tri thức 1. Khái niệm tri thức Tri thức là một trong những thuật ngữ phổ biến và được tìm kiếm nhiều nhất trên Thế giới (Holden, 2002). Những học giả có đóng góp to lớn và quan trọng nhất cho việc phát triển các lý thuyết liên quan tới tri thức phải kể tới Kogut và Zander (1992), Nonaka và Takeuchi (1995), Grant (1996), Davenport và Prusak (1998).

Tuy nhiên, mỗi học giả lại có cách lập luận và định nghĩa khác nhau về tri thức. Trong đó, Kogut và Zander (1992) định nghĩa tri thức bao gồm các thông tin do các cá nhân nắm giữ và được thể hiện trong các quy tắc hay hoạt động định kỳ mà theo đó các thành viên trong tổ chức có thể hợp tác với nhau để đạt được mục tiêu. Ngoài ra, việc ghi nhận tri thức được thể hiện ra trong các quy tắc gắn liền với tổ chức là rất cần thiết để có thể hiểu được hành vi của doanh nghiệp. Đồng quan điểm với Kogut và Zander (1992), nghiên cứu của Zack (1999) cũng cho rằng mỗi doanh nghiệp là một cái “kho lưu trữ” và tri thức là một quá trình gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp và được tạo ra thông qua các tương tác xã hội.

Bên cạnh đó, dựa trên các nghiên cứu trước đây của Kogut và Zander (1992), Nonaka và Takeuchi (1995) đã kế thừa và phát triển một mô hình giải thích quá trình sáng tạo tri thức trong doanh nghiệp. Theo đó, “tri thức là cơ sở để giải thích hành vi của doanh nghiệp”. Tri thức là một quá trình năng động của con người tìm cách lý giải niềm tin cá nhân đối với sự thật. Tri thức được sử dụng trong mối quan hệ với tri thức của những người khác và tồn tại trong mối tương quan với nhau” (Nonaka và Takeuchi, 1995).

Trong khi đó, Grant (1996) cho rằng “tri thức là nguồn lực sản xuất áp đảo quan trọng trong việc đóng góp vào giá trị gia tăng và tầm quan trọng trong chiến lược. Tri thức bao gồm thông tin, công nghệ, bí quyết và kỹ năng. Các loại tri thức khác nhau sẽ có cách chuyển giao khác nhau”. Ngoài ra, một trong những định nghĩa về tri thức được trích dẫn nhiều nhất trên thế giới là của Davenport và Prusak (1998).

Trong đó, “Tri thức là sự kết hợp trôi chảy của kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo bối cảnh và sự thấu hiểu để cung cấp một khuôn khổ để đánh giá và kết hợp giữa kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức được bắt nguồn và được áp dụng trong tâm trí của những người hiểu biết. Trong các tổ chức, tri thức không chỉ được hàm chứa trong các tài liệu, hay các kho tri thức mà n 12 còn được hàm chứa trong các quy trình, thông lệ, quy tắc hoạt động của tổ chức” (Davenport và Prusak, 1998). Định nghĩa này cho thấy tri thức có thể đạt được thông qua kinh nghiệm.

Và tri thức được phát triển theo thời gian và thông qua kinh nghiệm bao gồm những gì chúng ta tiếp thu được từ việc học tập chính thức và không chính thức. Do vậy, luận án này sử dụng định nghĩa về tri thức của Davenport và Prusak (1998). Bởi vì, định nghĩa của Davenport và Prusak (1998) phản ánh rất rộng ý nghĩa của tri thức trên tất cả các khía cạnh về nhận thức (giá trị, niềm tin) và hành vi (kinh nghiệm, hành động) của người thấu hiểu tri thức, đồng thời nắm bắt cả khía cạnh khách quan và chủ quan của tri thức. Phân loại tri thức Hiện nay, các học giả trên Thế giới đang đưa ra rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để phân loại tri thức.

Trong luận án này, tác giả chỉ trình bày các loại tri thức phổ biến dưới đây: a. Tri thức ẩn và tri thức hiện Thuật ngữ “tri thức ẩn” (knowledge tacit) và “tri thức hiện” (knowledge explicit) lần đầu xuất hiện trong nghiên cứu của Polanyi (1966). Trong đó, “We can know more than we can tell” – “Chúng ta có thể biết nhiều hơn những gì chúng ta có thể nói” (Planyi, 1966). Thuật ngữ này có nghĩa là chúng ta có thể nắm bắt và chia sẻ một số khía cạnh kiến thức của mình, trong khi một số khía cạnh khác thì chúng ta không thể.

Thông qua phát biểu của Polanyi (1966), chúng ta có thể thấy rằng “kiến thức” rõ ràng là trừu tượng. Tri thức cá nhân dù là tri thức ẩn hay tri thức hiện đều là những nguồn tài nguyên của tổ chức và có thể gia tăng giá trị vào các sản phẩm, khách hàng và cho chính tổ chức (Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2021). Dựa trên nghiên cứu của Polanyi (1966), Nonaka (1994) đã phân biệt rõ 2 khái niệm “tri thức ẩn” và “tri thức hiện” như sau: - Tri thức ẩn: Tri thức ẩn thường được xem là “tri thức trong hành động”, là dạng thức chưa được mô tả, mã hóa cũng như chưa tồn tại dưới bất cứ tài liệu nào. Tri thức ẩn mang tính cá nhân, chủ quan, trực giác cá nhân và không rõ ràng như các kỹ năng hay bí quyết.

Tri thức ẩn thường dựa trên trải nghiệm, khó thể hiện bằng lời nói, con số hay công thức. Tri thức ẩn phụ thuộc rất lớn vào ngữ cảnh mà nó tồn tại, đồng thời phụ thuộc vào cá nhân cụ thể và do vậy khó được chính thức hóa và truyền đạt (Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2021). Tri thức ẩn được cấu thành từ các yếu tố nhận thức và kỹ thuật. Các yếu tố nhận thức tập trung vào các mô hình tinh thần.

Các giá trị tinh thần như quan điểm, niềm tin và bối cảnh sẽ giúp các cá nhân nhận thức và xác định công việc của họ. n 13 - Tri thức hiện: Tri thức hiện mang tính khách quan, logic, được thể hiện, giải thích một cách rõ ràng thông qua lời nói, con số hoặc các công thức và không phụ thuộc vào bối cảnh. Loại tri thức này được chia sẻ dưới hình thức dữ liệu “cứng” hay quy tắc. Trong tổ chức, tri thức hiện thường nằm trong các chính sách, hệ thống, tài liệu hướng dẫn, thủ tục (Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2021).1 dưới đây đã phân biệt khá chi tiết các đặc điểm của tri thức ẩn và tri thức hiện như sau: Bảng 1.

So sánh đặc điểm của tri thức ẩn và tri thức hiện Tri thức ẩn Tri thức hiện Giúp thích ứng, đối diện với các tình Có thể được phổ biến, sao chép, truy cập huống mới và đặc biệt. và áp dụng trong toàn bộ tổ chức. Bao gồm chuyên môn sâu, bí quyết, sự Sử dụng cho đào tạo, phát triển. Khả năng phối hợp, chia sẻ tầm nhìn, Có thể tổ chức, sắp xếp, hệ thống hóa, truyền đạt văn hóa.

biến tầm nhìn thành tuyên bố sứ mệnh cũng như hướng dẫn thực thi. Được chuyển giao thông qua huấn luyện, Được chuyển giao qua các sản phẩm, dịch gặp mặt trực tiếp và một kèm một. vụ và các quá trình được lưu trữ dưới dạng văn bản hay tài liệu. Trong đó: - Giai đoạn 1: Tri thức ẩn sang tri thức ẩn sẽ được thông qua quá trình giao lưu xã hội.

Đây là một quá trình chia sẻ kinh nghiệm giữa các cá nhân để tạo ra suy nghĩ chung. - Giai đoạn 2: Tri thức ẩn sang tri thức hiện là quá trình thể hiện và làm rõ tri thức bằng ẩn dụ và tương đồng. - Giai đoạn 3: Tri thức hiện sang tri thức hiện là quá trình hệ thống hóa các khái niệm tạo thành một hệ thống tri thức. - Giai đoạn 4: Tri thức hiện đến tri thức ẩn liên quan chặt chẽ đến việc học hỏi, sau đó thực hành.

n 14 Mô hình SECI của Nonaka và Takeuchi (1995) cho rằng mỗi một phương thức có thể độc lập tạo ra tri thức mới. Tuy nhiên, quá trình sáng tạo tri thức trong tổ chức diễn ra khi cả bốn dạng phương thức tương tác với nhau một cách năng động, bắt đầu bằng sự giao lưu xã hội của các cá nhân, tiếp đến là quá trình ngoại hóa bên trong tập thể, sự kết hợp trong tổ chức, tiếp đó là quá trình nội hóa bên trong tập thể rồi cuối cùng trở lại trong các cá nhân. Quá trình sáng tạo tri thức này được bắt đầu từ các cá nhân, rồi nâng dần lên đến cấp độ nhóm và cuối cùng là đến cấp độ tổ chức. Điều này giúp mang lại sự tích lũy và tăng trưởng tri thức trong doanh nghiệp, qua đó cho phép sự học tập và sáng tạo tri thức mới trong tổ chức (Nonaka và Takeuchi, 1995).

Mô hình về sự tương tác giữa tri thức ẩn và tri thức hiện Nguồn: Nonaka và Takeuchi, 1995 b. Tri thức liên quan tới “kinh nghiệm” và “hành động” Thông qua tổng quan nghiên cứu, có thể thấy tri thức ẩn trong mỗi cá nhân rất khó chuyển giao. Ngoài ra, một số loại kiến thức của tổ chức như giá trị và niềm tin lại không được phản ánh trong các tài liệu được hệ thống hóa nhưng đã được ghi vào trong não bộ của các cá nhân nên không thể chuyển giao thông qua các tài liệu chính thức như email hay các văn bản chính thống. Do đó, cách để làm cho kiến thức ẩn trở nên rõ ràng là học bằng cách “hành động” hoặc học bằng “kinh nghiệm”.

Dựa trên lập luận được đưa ra bởi Polanyi (1983) về sự “thấu hiểu” (Knowing) của tri thức (Knowledge), nghiên cứu của Cook và Brown (1999) cho rằng các định nghĩa về tri thức ẩn và tri thức hiện là không đủ để có thể hiểu bản chất sâu sắc của kiến n 15 thức. Trong khi đó, Cook và Brown (1999) cho rằng chúng ra nên biết khái niệm “Thấu hiểu”. Khác với quan điểm của Nonaka và Takeuchi (1995) khi lập luận rằng con người có thể nắm giữ “tri thức ẩn” và “tri thức hiện” thì ngược lại, Cook và Brown cho rằng kiến thức không phải để sở hữu mà phải được thực hành. Xuất phát từ quan điểm xây dựng xã hội (social construction theory), Cook và Brown (1999) kết luận rằng việc tạo ra kiến thức thông qua tương tác xã hội đang diễn ra dựa trên thực tế làm việc trong tổ chức và tri thức được nắm bắt thông qua quá trình tương tác với mọi người và công việc.

Chính vì vậy, tri thức là một quá trình “thấu hiểu” (hiểu biết) và bị ảnh hưởng mật thiết bởi bối cảnh xã hội và văn hóa xung quanh nó (Cook và Brown, 1999). Đặc biệt, dựa trên các nghiên cứu trước đây của Polanyi (1983), Cook và Brown (1999), Lundvall (1996) đã phân loại tri thức thành 4 dạng thức là: Biết gì (Know- what), vì sao biết (Know-why), biết như thế nào (Know-how) và biết ai (Know-who).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tác Động Của Quản Trị Tri Thức Đến Hiệu Quả Doanh Nghiệp Tại Việt Nam là một tài liệu chuyên sâu phân tích vai trò của quản trị tri thức trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam. Tài liệu này nhấn mạnh cách thức các doanh nghiệp có thể tận dụng tri thức nội bộ và bên ngoài để cải thiện quy trình, tăng năng suất và duy trì lợi thế cạnh tranh. Đặc biệt, nó cung cấp các ví dụ thực tiễn và giải pháp cụ thể giúp doanh nghiệp áp dụng quản trị tri thức một cách hiệu quả. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà quản lý, chuyên gia và sinh viên quan tâm đến lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức về hiệu quả kinh doanh, bạn có thể tham khảo Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần Thuận Đức, một tài liệu chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh trong bối cảnh cụ thể. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ kế toán nghiên cứu tác động của nhân tố quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động tại các công ty sản xuất niêm yết cung cấp góc nhìn sâu hơn về mối liên hệ giữa quản trị và hiệu quả hoạt động. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ kinh tế về đổi mới mô hình kinh doanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự đổi mới trong quản trị và tác động của nó đến hiệu quả doanh nghiệp.