Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu trước Chương 2. Cơ sở lý luận về sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại NHTM Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Thực trạng sử dụng công cụ PSTD và các điều kiện để sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam Chương 5. Các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các điều kiện để sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này, NCS lược khảo các nghiên cứu trước ở nước ngoài và ở trong nước có liên quan đến nội dung đề tài của luận án. Trong đó, với mỗi nghiên cứu, NCS trình bày kết quả nghiên cứu, những phương pháp nghiên cứu được các tác giả sử dụng để nghiên cứu.
Bên cạnh đó, trong chương này, NCS cũng trình bày các hướng tiếp cận nghiên cứu đối với chủ đề có liên quan đến sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại NHTM, qua đó phát hiện khoảng trống nghiên cứu. Các nghiên cứu ở nước ngoài và ở trong nước Các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề về sử dụng công cụ PSTD trong quản trị RRTD tại ngân hàng, đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập; nội dung nghiên cứu của các tác giả này cũng khá đa dạng trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn. Các nghiên cứu ở nước ngoài Duffee và Zhou (2001) đã nghiên cứu lợi ích của ngân hàng trong việc sử dụng PSTD để quản trị RRTD, đặc biệt là hoán đổi RRTD. Bằng việc sử dụng mô hình về sự lựa chọn đối nghịch/bất lợi, các tác giả cho thấy với vai trò là công cụ chuyển giao rủi ro, PSTD được các ngân hàng sử dụng để giảm thiểu rủi ro kiệt quệ tài chính.
Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ PSTD sẽ đem lại lợi ích hay gây ra tổn hại đối với ngân hàng, chúng phụ thuộc vào vấn đề thông tin bất cân xứng. Nếu thông tin bất cân xứng cao, thị trường bán khoản vay sẽ bị giới hạn sử dụng đối với ngân hàng; kết quả là việc sử dụng PSTD sẽ đem lại giá trị lớn đối với ngân hàng; ngược lại, việc sử dụng công cụ PSTD có thể gây tác động tiêu cực đối với thị trường bán khoản vay. Batten và Hogan (2002) đã nghiên cứu về quan điểm đối với PSTD, các tác giả cho thấy PSTD là một nhóm các công cụ tài chính có mục đích chung, đó là để quản trị RRTD. Ngoài ra, các tác giả cho thấy có bốn loại PSTD chính, bao gồm hoán đổi RRTD (Credit default swap – CDS), trái phiếu ràng buộc tín dụng (Credit – linked notes), hoán đổi tổng thu nhập (Total return swaps – TRS), quyền chọn chênh lệch tín dụng (Credit spread options – CSO).
Instefjord (2005) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa việc sử dụng PSTD và RRTD của các ngân hàng. Bằng việc sử dụng mô hình dựa vào chi phí kiệt quệ tài 2 chính, tác giả cho thấy sự đổi mới tài chính thông qua thị trường PSTD có thể làm tăng rủi ro cho ngân hàng, đặc biệt là ở các phân khúc thị trường tín dụng có độ co giãn cao. Bên cạnh đó, tác giả cũng chứng tỏ rằng, tầm quan trọng mang tính quyết định là quá trình tiến hành đổi mới tài chính, sự thành công của một công cụ PSTD mới thì được xác định bởi sự thành công về thương mại của chúng. Morrison (2005) cho thấy, thị trường PSTD cung cấp tính thanh khoản, nhưng sự thiếu minh bạch của thị trường thứ cấp này đối với các giao dịch về các tài sản ngân hàng.
Tác giả cũng chỉ ra rằng, khi các công ty dựa vào chứng nhận giá trị đối với nợ ngân hàng để có được sự tài trợ rẻ trên thị trường trái phiếu, sự tồn tại của thị trường PSTD có thể là nguyên nhân đối với việc phát hành các trái phiếu dưới mức hạng đầu tư, và kết quả làm giảm lợi ích xã hội. Để cải thiện vấn đề này, tác giả cho rằng cần phải yêu cầu sự báo cáo đối với PSTD. Acharya và Johnson (2007) đã nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến giao dịch nội bộ trong thị trường PSTD. Bằng việc sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) và ước lượng System generalized method of moments (SGMM) với dữ liệu là giá hoán đổi RRTD đóng cửa hàng ngày đối với hầu hết các mua bán chuyển đến Bắc Mỹ, từ ngày 1/1/2001 đến 20/10/2004; kết quả nghiên cứu cho thấy có một dòng thông tin từ thị trường hoán đổi RRTD đến thị trường vốn, dòng thông tin này thì thường xuyên và có ý nghĩa hơn, đó là tính đại diện cho nhiều mối quan hệ của ngân hàng; dòng thông tin được tập trung hàng ngày là những thông tin tín dụng tiêu cực – được biểu hiện thông qua sự lựa chọn bất lợi tín dụng có thể xảy ra.
Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về mức độ rủi ro trong giao dịch nội bộ với độ nhạy cảm bất lợi của giá hoặc dự phòng thanh khoản trong thị trường tín dụng. Norden và Wagner (2008) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa thị trường hoán đổi RRTD và việc định giá các khoản vay tại các công ty ở Mỹ. Bằng việc sử dụng phương pháp hồi quy hai bước (two-stage regression), ước lượng thông qua mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) với dữ liệu gồm chênh lệch lãi suất của các khoản vay công ty, chênh lệch giá hoán đổi RRTD, chênh lệch giá trái phiếu và số liệu vĩ mô từ tháng 01/1998 đến 03/2006; kết quả nghiên cứu cho thấy giá của PSTD được quan sát thông qua hoán đổi RRTD có mối quan hệ rất mạnh đối với chênh lệch lãi suất của hệ thống các khoản vay mới; chúng cũng là một nhân tố nổi 3 trội trong việc giải thích chênh lệch lãi suất này. Vì vậy, chúng có thể được lựa chọn làm tiêu chuẩn định giá khoản vay.
Nicolo và Pelizzon (2008) đã nghiên cứu việc thiết kế tối ưu đối với hợp đồng PSTD, khi các ngân hàng có thông tin riêng đối với khả năng của họ trong thị trường cho vay và sự phụ thuộc đối với yêu cầu về vốn. Bằng việc sử dụng mô hình dựa vào thông tin bất cân xứng và yêu cầu về vốn, các tác giả cho thấy việc thiết kế bảo đảm sự tối ưu có thể thay đổi, phụ thuộc vào những yêu cầu về vốn pháp lý và sự xuất hiện tính không minh bạch trong các thị trường PSTD. Hirtle (2009) đã nghiên cứu PSTD và nguồn cung tín dụng của ngân hàng. Tác giả cho rằng, PSTD là một trong những sự đổi mới nhất và có sự tác động quan trọng đến các thị trường tín dụng.
Ngoài ra, tác giả tìm thấy bằng chứng hạn chế, đó là sử dụng PSTD lớn hơn có liên quan đến nguồn cung tín dụng lớn hơn của ngân hàng. Bên cạnh đó, sử dụng PSTD dường như là để bổ sung cho các hình thức phòng ngừa rủi ro khác của các ngân hàng. Minton và ctg (2009) đã nghiên cứu việc sử dụng PSTD đối với các ngân hàng của Mỹ nắm giữ những công ty với tài sản hơn một tỷ đô la từ năm 1999 đến 2005. Bằng việc sử dụng phương pháp hồi quy Probit, kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có một số nhỏ các ngân hàng mua ròng về sự phòng hộ khoản vay, nhưng đó cũng là những ngân hàng có ít vốn.
Sử dụng PSTD của các ngân hàng chủ yếu với vai trò kinh doanh hơn là với vai trò phòng hộ khoản vay. Thompson (2010) đã nghiên cứu ảnh hưởng của rủi ro đối tác trong các hợp đồng bảo hiểm về tài chính, sử dụng trường hợp chuyển giao RRTD trong ngân hàng. Bằng việc phát triển mô hình đại diện để phân tích quyết định đầu tư tối ưu của người bảo hiểm khi xảy ra sự thất bại, tác giả cho thấy vấn đề rủi ro đạo đức mới về phía bên bảo hiểm của thị trường. Ngoài ra, rủi ro đối tác này có thể tạo ra động cơ để bên được bảo hiểm tiết lộ thông tin nhiều hơn về khả năng đòi bồi thường.
Bolton và Oehmke (2011) đã nghiên cứu vấn đề người cho vay không trách nhiệm, bởi người chủ nợ có được sự bảo hiểm đối với sự vỡ nợ nhưng vẫn nắm giữ quyền kiểm soát người vay trong và sau khi vỡ nợ. Bằng việc đưa ra mô hình về sự cam kết được giới hạn của hoán đổi RRTD, các tác giả cho thấy khi người cho vay tự do chọn các mức bảo vệ tín dụng, họ thường bảo hiểm trên mức; kết quả liên 4 quan đến vấn đề người cho vay không trách nhiệm, đó là sự không hiệu quả cả dự tính và sau đó. Các tác giả cho rằng, bằng việc đưa vào hợp đồng các điều khoản loại trừ đối quyền được bảo hiểm hoặc bằng cách thực hiện cơ cấu lại sự cố tín dụng, bên bảo hiểm có thể loại trừ vấn đề người cho vay không trách nhiệm. Nijskens và Wagner (2011) nghiên cứu hoạt động chuyển giao RRTD và rủi ro hệ thống.
Các tác giả cho thấy, trong khi các ngân hàng có thể dời bỏ đối với RRTD của những khoản vay, chúng có thể tạo nên rủi ro hệ thống lớn hơn. Điều này đã tạo ra thách thức đối với sự điều chỉnh tài chính, trong đó tập trung vào những đặc thù của các tổ chức cụ thể. Bedendo và Bruno (2012) đã nghiên cứu lợi ích của việc bán khoản vay, chứng khoán hóa và PSTD tại các NHTM ở Mỹ từ 2001 đến 2009, đặc biệt trong cuộc khủng hoảng tài chính. Bằng việc sử dụng phương pháp Generalized method of moments (GMM), kết quả nghiên cứu cho thấy việc chuyển giao RRTD có giá trị lợi ích đối với nền kinh tế.
Tuy nhiên, các tác giả cũng cho thấy tính mạo hiểm cao hơn ở những ngân hàng khuyến khích mạnh mẽ đối với việc bán khoản vay và chứng khoán hóa, nói cách khác tỷ lệ vỡ nợ cao hơn ở những ngân hàng này trong cuộc khủng hoảng tài chính; những lợi ích và bất lợi của việc chuyển giao RRTD thông qua bán khoản vay và chứng khoán hóa thì cao hơn nhiều so với PSTD. Leitner (2012) cho thấy, trong các hoạt động liên quan đến CDS, khi các hợp đồng không được quan sát, những người đại diện có thể cam kết cùng một loại tài sản với nhiều đối tác mà có thể xảy ra sự vỡ nợ sau đó. Tác giả chỉ ra rằng, một cơ chế trung tâm mà có thể cho phép chiết xuất tất cả thông tin có liên quan đến các hợp động mà người đại diện thực hiện.