Chương 1: Quản lý rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam Chương 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam 13 Chƣơng 1 QUẢN LÝ RỦI RO ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. RỦI RO ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Ngay từ xa xƣa ngƣời ta đ biết dùng tiền làm phƣơng tiện thanh toán, làm trung gian trao đổi hàng hoá.
Thông qua tiền, việc trao đổi hàng hoá đƣợc tiến hành một cách thuận lợi, dễ dàng hơn nhiều, góp phần kích thích sản xu t. X hội ngày càng phát triển thì vai tr của tiền tệ ngày càng đƣợc phát huy, đồng thời các nhu cầu về tiền tệ cũng bắt đầu nảy sinh và ngày càng trở nên đa dạng, chính điều này đ thúc đẩy sự ra đời và phát triển của một loại hình trung gian tài chính chuyên kinh doanh về tiền tệ, đó là các ngân hàng. NHTM là một trong những loại hình ngân hàng trung gian lâu đời nh t. Sự ra đời của NHTM là kết quả t t yếu khách quan của quá trình sản xu t, trao đổi hàng hóa và phân công lao động xã hội.
NHTM là một sản phẩm độc đáo của sản xu t hàng hoá trong nền kinh tế thị trƣờng, một tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế: Là loại hình tổ chức tài chính cung c p một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nh t - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nh t so với b t kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. NHTM là một tổ chức kinh tế có tƣ cách pháp nhân hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chính là huy động tiền gửi dƣới các hình thức khác nhau của khách hàng, trên cơ sở nguồn vốn huy động này và vốn chủ sở hữu của ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tƣ, chiết kh u đồng thời thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, môi giới, tƣ v n và một số dịch vụ khác cho các chủ thể trong nền kinh tế. Tóm lại, Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của Khách hàng; sử 14 dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ cho Khách hàng trong nền Kinh tế quốc dân. Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Vai tr to lớn của ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế x hội xu t phát từ chính đặc trƣng của hoạt động kinh doanh ngân hàng.
NHTM giống nhƣ các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích lợi nhuận song lại ở lĩnh vực kinh doanh đặc biệt: kinh doanh tiền tệ, một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm trong nền kinh tế và có tác động tới mọi hoạt động khác. Do nhu cầu t t yếu của nền kinh tế thị trƣờng, các ngân hàng không ngừng tăng cƣờng mở rộng các danh mục các sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, sử dụng nguồn vốn có hiệu quả và thu lợi nhuận cao. Tuy nhiên, về cơ bản chúng ta có thể sắp xếp các hoạt động đó vào một trong ba nhóm sau: - Hoạt động huy động vốn - Hoạt động sử dụng vốn - Hoạt động cung c p các dịch vụ tài chính Ba hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và có vai trò quan trọng quyết định đến sự thành công trong kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động huy động vốn Một đặc trƣng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM tạo nên sự khác biệt so với các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực phi tài chính là hoạt động huy động vốn, một nghiệp vụ kinh doanh hết sức quan trọng của NHTM.
NHTM sử dụng uy tín và điều kiện sẵn có của mình để tiến hành huy động vốn. Hoạt động này tạo nguồn vốn cho NHTM, vì thế đóng vai tr quan trọng, ảnh hƣởng tới ch t lƣợng hoạt động của ngân hàng. Mặc dù bị giới hạn về mức huy động vốn, song nếu các NHTM sử dụng tốt nguồn vốn này thì không những nguồn lợi của ngân hàng đƣợc tăng lên mà c n tạo cho ngân hàng uy tín ngày càng cao. Qua đó ngân hàng có thể mở rộng đƣợc vốn và mở rộng qui mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Kết c u nguồn vốn bao gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vay và các nguồn vốn khác. 15 Hoạt động sử dụng vốn Sử dụng và khai thác các nguồn vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng nh t của NHTM vào mục đích nhằm đảm bảo an toàn trong thanh toán cũng nhƣ tìm kiếm lợi nhuận. Nghiệp vụ này đƣợc thể hiện thông qua nhiều nghiệp vụ cụ thể nhƣ: cho vay, đầu tƣ, hoạt động ngân quỹ. Trong đó, cho vay là nghiệp vụ cơ bản nh t trong sử dụng và khai thác nguồn vốn của NHTM.
* Nghiệp vụ cho vay: Là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu và tạo khả năng sinh lời cao cho ngân hàng. Trong tổng tài sản có thì nghiệp vụ này chiếm t trọng lớn nh t. * Nghiệp vụ đầu tƣ tài chính: Các NHTM thực hiện quá trình đầu tƣ bằng vốn của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, chứng khoán trên thị trƣờng, đầu tƣ b t động sản, đầu tƣ thị trƣờng vàng. với mục đích kiếm lời, phân tán rủi ro qua việc đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh.
* Nghiệp vụ ngân quỹ: Nghiệp vụ này phản ánh các khoản về dự trữ của ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn trong thanh toán và thực hiện qui định về dự trữ bắt buộc do NHNN đề ra. Hoạt động cung c p dịch vụ tài chính Là nghiệp vụ của ngân hàng thực hiện các dịch vụ cho khách hàng thông qua đó nhận đƣợc các khoản thu dƣới hình thức hoa hồng. Các hoạt động trung gian này có độ rủi ro th p hơn hoạt động cho vay và đầu tƣ trong khi vẫn mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển thì dịch vụ này càng mở rộng, bao gồm: - Dịch vụ thanh toán, chuyển tiền: Tiến hành chuyển tiền cho khách, thanh toán hộ khách hàng về các khoản tiền mua bán dịch vụ thông qua việc thu hộ, chi hộ khách hàng bằng hình thức séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thƣ tín dụng… - Dịch vụ bảo l nh: Là nghiệp vụ mà Ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình nếu khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đ cam kết của họ đối với đối tác.
- Dịch vụ kinh doanh ngoại hối: Tiến hành đồng thời mua một loại tiền tệ này và bán một loại tiền tệ khác. 16 - Dịch vụ chứng khoán: Ngân hàng làm đại lý phát hành và bán chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ …) cho khách hàng. - Dịch vụ ngân hàng điện tử: Hiểu theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng đƣợc khách hàng thực hiện nhƣng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông.
E-Banking là một dạng của thƣơng mại điện tử (electronic commerce hay e- commerce) ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Cũng có thể hiểu cụ thể hơn, E-Banking là một hệ thống phần mềm tin học cho phép khách hàng có thể tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua phƣơng tiện điện tử (công nghệ thông tin, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tƣơng tự). Nhƣ vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, thông qua nghiệp vụ huy động vốn để cho vay, đầu tƣ và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Thông qua các nghiệp vụ, NHTM đ chứng tỏ đƣợc sự cần thiết của hệ thống ngân hàng trong phát triển nền kinh tế thị trƣờng, là đ n bẩy của nền kinh tế.
Đặc điểm kinh doanh của Ngân hàng thương mại Hoạt động NHTM là hình thức kinh doanh kiếm lời, theo đuổi mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu. Ngân hàng thực hiện hai hình thức hoạt động là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ đƣợc biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dƣới các hình thức khác nhau, để c p tín dụng cho khách hàng có yêu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Thứ nhất, NHTM là tổ chức trung gian trong nền kinh tế nhằm mục đích kiếm lời: Các hoạt động dịch vụ ngân hàng đƣợc biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối, chứng khoán, để cam kết thực hiện công việc nh t định cho khách hàng trong một thời gian nh t định nhằm mục đích thu phí dịch vụ hoặc hoa hồng.
Thứ hai, hoạt động NHTM phải tuân thủ theo quy định của pháp luật: nghĩa là chỉ khi NHTM thoả m n đầy đủ các điều kiện khắt khe do pháp luật qui định 17 nhƣ điều kiện về vốn, phƣơng án kinh doanh.thì mới đƣợc phép hoạt động trên thị trƣờng. Thứ ba, hoạt động NHTM là hình thức kinh doanh có độ rủi ro cao, cạnh tranh khốc liệt: cạnh tranh gay gắt, rủi ro cao hơn nhiều so với các hình thức kinh doanh khác và thƣờng có ảnh hƣởng sâu sắc tới các ngành khác và cả nền kinh tế. Sở dĩ nhƣ vậy là do trong hoạt động ngân hàng đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ do các ngân hàng tiến hành huy động vốn của ngƣời khác rồi đem vốn đó để c p tín dụng cho khách hàng theo nguyên tắc hoàn trả vốn và l i trong một thời gian nh t định, nên đ tạo rủi ro cho các hoạt động NHTM. Rủi ro đến từ phía ngân hàng, khách hàng vay tiền, rủi ro đến từ những yếu tố khách quan.
Bởi vậy, NHTM phải đối mặt với rủi ro cao, kéo theo là rủi ro đối với những ngƣời gửi tiền ở NHTM cũng nhƣ rủi ro đối với nền kinh tế.