phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị. danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận án được chia thành 3 chương: - Chương l: Cơ sở lí luận của QL hoạt động GD KNS cho trẻ MG ở trường MN. - Chương 2: Thực trạng QL hoạt động GD KNS cho trẻ MG ở các trường MN tư thục tại TP. - Chương 3: Biện pháp QL hoạt động GD KNS cho trẻ MG ở các trường MN tư thục tại TP.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CUA QUAN LÍ HOẠT DONG GIAO DUC KĨ NANG SONG CHO TRE MAU GIAO O TRUONG MAM NON 1. Tông quan nghiên cứu van đề ở nước ngoài và trong nước Hoạt động GD KNS và QL hoạt động GD KNS trong nhà trường là van dé nghiên cứu không mới ở nước ngoài và Việt Nam. Tuy nhiên, tùy vào từng thời điểm, từng quốc gia, mỗi công trình đã đóng góp những kết quả thiết thực vẻ lí luận cũng như thực tiễn, làm phong phú thêm các kinh nghiệm về hoạt động GD KNS và QL hoạt động GD KNS trong nha trường. Với riêng van dé QL hoạt động GD KNS cho trẻ MG ở trường MN, một số nghiên cứu cũng tập trung những khía cạnh khác nhau vẻ lí luận và thực tiễn.
Các nghiên cứu về kĩ năng sống Ở nước ngoài, KNS (life skills) không phải là một khái niệm mới, năm 1986 (WHO, 1986). KNS đã được các tô chức quốc tế công nhận là một khái niệm chính thức và được đẻ cập rộng rãi trong các chính sách quốc tế. VỀ quan niệm KNS. các nghiên cứu trên thé giới dù đưa ra những cách định nghĩa khác nhau nhưng nội hàm của các khái niệm này đều cho rằng: KNS là những kĩ năng giúp con người tôn tại và phát trién trong xã hội.
Các khái niệm do Tô chức Y tế Thể giới (WHO) dé xuất được thay đôi. mở rộng dan theo thời gian nhưng cũng đều cho rằng KNS là những kĩ năng tâm lí xã hội và giao tiếp được con người vận dụng trong đời sống hằng ngày dé giái quyết các van dé va tương tác có hiệu quả trong cuộc sông (WHO, 1994) (WHO, 1999) (WHO, 2020). Quan niệm này của WHO được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình (Thomas, 2006) (Yadav & Iqbal, 2009) (Aguila, 2015). Tô chức UNESCO cho rang KNS là một dang năng lực (ability) giúp cho người thực hiện day đủ các chức năng xã hội và tham gia đời sông hằng ngày (UNESCO, 2003).
Như vay, quan niệm về KNS có sự thay đổi theo thời gian, theo sự phát triển của xã hội trong những giai đoạn khác nhau và đòi hỏi con người cần có những khả nang mới dé thích ứng hiệu qua, nhưng các quan niệm đó đều mô tả những dang khả nang dé giúp con người đáp ứng được những yêu cầu của xã hội nhằm tồn tại và phát triên. Về phân loại KNS, các nghiên cứu trên thé giới hiện nay chưa có sự thông nhất về khung KNS cần thiết cho các lứa tuôi khác nhau. Sở di như vậy là vì sự khác biệt về mốc thời gian và nơi sinh sống chi phối đến con người, đòi hỏi con người phải có những kĩ năng khác nhau dé có thẻ tồn tại, sống và phát triển toàn diện. Theo cách phân loại của UNESCO, KNS có thê chia thành 2 nhóm: nhóm các kĩ năng chung (kĩ nang nhận thức, ki năng cảm xúc, kĩ năng xã hội) và nhóm các kĩ năng được thé hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (các van dé đời sống và sức khoẻ; các van đề về giới; các van đề về phòng chống HIV/AIDS, phòng chống ma tuý, thuốc lá, rượu: các van dé thiên nhiên, môi trường: các vẫn dé về gia đình, cộng đồng.
Theo cách phân loại của Tổ chức Quy Nhi đông Liên hợp quốc (UNICEF). KNS có thé chia thành 3 nhóm co bản: Nhóm ki năng tự nhận thức và sông với chính mình, nhóm kĩ năng nhận thức và sống với người khác, nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả (Huỳnh Văn Sơn và cộng sự. Theo cách phân loại mới nhất của WHO, KNS được chia thành 3 nhóm: Kĩ năng tương tác giữa các cá nhân và giao tiếp (kĩ năng giao tiếp, kĩ năng từ chối và thương lượng, kĩ năng vận động). kĩ nang nhận thức (kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tư duy phản biện), kĩ năng cá nhân — kĩ năng đối phó và QL bản thân (kĩ năng tự nhận thức và tự QL, kĩ năng ứng xử) (WHO, 2020).
Như vay, cách phân loại KNS là không cố định và có tính linh hoạt. Điều này tạo nên sự đa đạng trong việc lựa chọn nội dung GD KNS cho phù hợp với từng đối tượng GD ở các khu vực cụ thê. Về vai trò của KNS, một cách khái quát, bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau trên các lĩnh vực tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu trên thé giới đều chứng minh rằng: KNS là yếu tô không thé thiếu đối với sự tồn tại và phát trién toàn điện của con người ở mọi lĩnh vực của đời sông xã hội như phát triển cá nhân, phát triển các nang lực tâm lí - xã hội (WHO, 1994) (UNESCO, 2003) (Kamps, Ellis, Mancina, & Greene, 2010) (Aguila, 2015) (Srisa-an, 2015). Thậm chí, KNS còn đóng vai trò chỉ phối đến mọi mặt của đời sống của con người gồm thê chất, tỉnh thần, sự nghiệp, tình cảm, xã hội, trí thông mình (Leutenberg & Liptak, 2009).
13 O Việt Nam, từ những năm 1990, sau khi WHO chính thức đưa ra khái niệm KNS, thuật ngữ KNS bắt đầu được quan tâm tại Việt Nam và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Về quan niệm KNS, Nguyễn Quang Uan (2008) cho răng cuộc sông con người bao gồm các hoạt động song, trong hệ thông các kĩ năng cơ bản có tính tông hợp và phức tap của hoạt động sông của con người có các KNS. Phạm Minh Hạc (chủ biên) và cộng sự (2013) cho rằng KNS là tông hợp các kĩ năng bộ phận giúp cá nhân thích nghi và giải quyết hiệu qua các yêu cầu, thách thức của cuộc sóng. Quan niệm khác cho rằng KNS là khả nang lam cho hành vi va sự thay đôi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp cho con người có thê kiểm soát, QL có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hằng ngày (Nguyễn Thanh Bình và cộng sự, 2017).
Huỳnh Văn Sơn và cộng sự (2019) xem KNS là một biéu hiện quan trọng của khả năng tâm lí — xã hội giúp cho các cá nhần thé hiện được chính mình và tạo ra nội lực cần thiết dé giải quyết các van dé trong cuộc sông và phát triển. dù cách diễn đạt có khác nhau và nội hàm của các khái niệm có độ rộng, hẹp khác nhau, nhưng tựu trung lại, KNS theo quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước là một khái niệm thuộc về phạm trù tâm lí (hiểu theo nghĩa rộng) chứ không phải chỉ một kĩ thuật thực hiện hành động, hành vi (hiểu theo nghĩa hẹp). Về phân loại KNS, tùy vào cách tiếp cận khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu có mỗi cách phân loại khác nhau. Nguyễn Quang Uan (2008) cho rằng KNS của con người bao gồm 3 nhóm kĩ năng: Nhóm kĩ năng thuộc về cuộc sống cá nhân, nhóm kĩ năng quan hệ với người khác, với cộng đồng và xã hội, nhóm kĩ năng công việc.
Theo tác giả Huynh Văn Sơn (2011), cách phân loại KNS theo mô hình 4H của Steve Mc. Kinley là hợp lí, trong đó chia thành 4 nhóm kĩ năng lớn và 8 nhóm ki nang nhỏ, bao gồm: Nhóm kĩ năng vận động (nhóm các ki năng tương tác, nhóm các kĩ năng lam việc), nhóm các kĩ năng sức khỏe (nhóm các kĩ năng khang định bản thân. nhóm các kĩ năng sinh hoạt), nhóm các kĩ năng nhận thức (nhóm các kĩ năng QL, nhóm các ki năng tư duy) và nhóm các kĩ năng cảm xúc (nhóm các kĩ năng tương tác, nhóm các kĩ năng quan tâm). Theo nhóm tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự (2017), KNS thay đôi theo nền văn hoá và hoan cảnh nhưng tôn tại các nhóm kĩ năng cốt lõi, có mỗi quan hệ mật thiết với nhau, dan xen và bô sung cho nhau, bao gồm: nhóm ki 14 năng nhận thức bản thân và QL bản than, nhóm ki năng liên nhân cách, nhóm kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề.
Nhận định về các cách chia này, nhóm tác giả Huỳnh Văn Sơn và cộng sự (2019) cho rằng “tuy từng độ tudi, có thé phân loại thành những KNS khác nhau. Dựa trên các giá trị chung và những giá trị cần chiếm lĩnh cũng như những đặc điểm tâm lí lứa tuổi đặc trưng thì những KNS sẽ được phân chia phù hợp với quá trình học tập. huấn luyện hay GD”. VỀ vai trò của KNS doi với con người, tương tự như các nghiên cứu ở nước ngoài, các nghiên cứu trong nước đều đồng ý rằng: KNS là yếu tố quan trọng trong sự hình thành và phát triển năng lực của con người, đặc biệt ở khía cạnh tâm lí - xã hội (Nguyễn Quang Uân, 2008) (Huỳnh Văn Sơn, 2011) (Nguyễn Thanh Binh và cộng sự, 2017) (Huỳnh Văn Sơn và cộng sự, 2019).
Như vậy, các nghiên cứu về KNS ở Việt Nam đa số đều tiếp cận dưới góc độ tâm lí học. đã kế thừa những kết quả đạt được từ các nghiên cứu về KNS trên thé giới và hệ thong hoá, khái quát hoá lại hệ thống If luận về KNS. Các nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống và giáo duc kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo Với vai trò không thê thiếu của KNS trong đời sống con người, công tác GD KNS trở nên cấp thiết và trở thành nội dung không thé thiểu trong chương trình GD của nhiều quốc gia. Các nghiên cứu về GD KNS cho người học trong nhà trường cung cấp những lí luận và kinh nghiệm thực tiễn phong phú về hoạt động GD này.
Tại các nước phương Tây, hoạt động GD KNS đã vận dụng một cách tông hợp quan điểm của những nghiên cửu của các tô chức quốc tế như WHO, UNICEE (UNESCO, 2009). Các nghiên cứu ứng dụng chuyên biệt được tông hợp va đưa ra một hệ thông KNS định hướng cho người học rèn luyện dựa trên các nhóm kĩ năng sau: nhóm kĩ năng thuộc vẻ tâm lí cá nhân, nhóm kĩ năng trong mỗi quan hệ với người khác, nhóm kĩ năng cộng đồng và nhóm kĩ năng làm việc cá nhân. O các quốc gia Nam A, tiêu biêu như An Độ và Nepal, các nghiên cứu rất quan tâm đến khái niệm và phân loại KNS nhằm làm cơ sở để thử nghiệm các kế hoạch GD KNS, hướng đến tăng cường sự lành mạnh vẻ tinh than va năng lực của con người (Srisa-an, 2015), (Chakra, 2016).