CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hơn 140 năm kể từ khi ra đời từ trường ĐH Harvard (Hoa Kỳ), ĐT theo HTTC đã lan rộng trên khắp thế giới và ngày càng chứng tỏ tính ưu việt của một hệ thống ĐT vì người học. Đã có nhiều nghiên cứu về QLĐT theo HTTC, trong đó có thể kể đến những nghiên cứu liên quan đến luận án với các xu hướng như sau: (1) Nghiên cứu về ĐT theo HTTC trong các trường ĐH; (2) Nghiên cứu về QLĐT theo HTTC trong các trường ĐH. Nghiên cứu về đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học Nghiên cứu về “Hệ thống tín chỉ tại các trường ĐH Hoa Kì: Lịch sử phát triển, định nghĩa và cơ chế hoạt động”[9] của PGS.
Trexler, Khoa Giáo dục Sư phạm Trường ĐH Califonia Davis, Hoa Kỳ. Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ rõ lịch sử phát triển của mô hình ĐT theo HTTC đại học của Hoa Kỳ cũng như cơ chế hoạt động của nó và các lợi ích mà mô hình này đem lại cho nền GDĐH Hoa Kỳ. Chính nhờ vào mô hình này mà hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ liên tục cao hơn các quốc gia khác. Không một hệ thống nào cho phép khả năng linh hoạt và chuyển đổi lại có thể hoàn hảo, tập trung vào tiêu điểm chính của HTTC: tạo ra một nền giáo dục đẳng cấp quốc tế, ĐT một lực lượng lao động dựa trên những điểm mạnh, mối quan tâm và nguyện vọng của SV.
Bên cạnh nghiên cứu chi tiết của Cary J. Trexler còn có các công trình nghiên cứu khác về HTTC ở bậc ĐH của Hoa Kỳ như Giáo sư G. Dietrich đã nêu ra vai trò thiết thực, cần thiết của HTTC tại cuốn “The emergence of the credit system in American education considered as a problem of social and intellectual history” (Sự xuất hiện của HTTC trong giáo dục Mỹ được coi là một vấn đề của lịch sử xã hội và trí tuệ) [81]. Tác giả James M.
Heffernan, trong bài viết “The Credibility of the Credit hour: The History, Use and Shortcomings of the Credit System” (Sự tín nhiệm của giờ tín chỉ: Lịch sử, Sử dụng và Những nhược điểm của HTTC) [86] đã trình bày tổng quan HTTC với các khái niệm, QTĐT, ưu nhược điểm, điều kiện tiên quyết để chuyển đổi 9 thành công và khả năng áp dụng HTTC đối với các nước đang phát triển; bài học kinh nghiệm của Mỹ và thế giới qua triển khai ĐT theo HTTC. Tác giả đã nêu rõ một số yếu tố quan trọng để chuyển đổi thành công QTĐT theo HTTC như: các văn bản pháp lý của Chính phủ và các cơ quan Nhà nước; sự đồng thuận của xã hội; sự phù hợp với các thành tố của QTĐT. Tác giả cũng lưu ý đối với các trường ĐH triển khai phương thức này ở các nước đang phát triển không rập khuôn hoàn toàn mô hình của Mỹ mà cần căn cứ vào các đặc điểm riêng gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và văn hóa của đất nước mình mới có thể đạt kết quả khả quan về CLĐT. Ở Trung Quốc, các nhà khoa học Jinsong Zhang, Changliu Wang và Lulu Dong đã công bố bài viết “Analysis of restrictive factors on the university credit system in China” (Phân tích những yếu tố hạn chế trong đào tạo theo HTTC ở trường ĐH Trung Quốc ) [87].
Các tác giả đã nêu những khó khăn trong ĐT theo HTTC ở các trường ĐH Trung quốc như: đội ngũ giảng viên; CTĐT; phương pháp KT-ĐG; cơ sở vật chất và tài chính; hệ thống quản lý; tự chủ của các trường ĐH… chưa đáp ứng với yêu cầu ĐT theo HTTC. Những khó khăn này cũng đang là thách thức mà các trường ĐH Việt Nam phải đối mặt khi chuyển sang ĐT theo HTTC. Ở trong nước, phương thức ĐT theo HTTC đã được các trường ĐH Việt Nam nghiên cứu áp dụng từ những năm của thập kỷ 90 (Bộ GD-ĐT cho phép các trường được áp dụng thử nghiệm HTTC từ năm 1993). Những nhà nghiên cứu tiên phong về HTTC ở Việt Nam đã công bố các nghiên cứu về những vấn đề cơ bản về ĐT và QLĐT theo HTTC trên thế giới và khuyến nghị triển khai áp dụng ở Việt Nam.
Tác giả Lâm Quang Thiệp đã có bài viết "Xây dựng CTĐT theo tín chỉ có sử dụng Internet" năm 2006 với chủ đề “Về việc áp dụng HCTC trên thế giới và ở Việt Nam” [62]. Trên cơ sở phân tích ưu, nhược điểm của ĐT theo HTTC, so sánh giữa ĐT theo niên chế học phần ở nước ta và ĐT theo HTTC ở Mỹ, báo cáo đã chỉ ra sự cần thiết và lộ trình chuyển đổi từ ĐT niên chế học phần sang ĐT theo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam. Vấn đề này cũng được nhà nghiên cứu Nguyễn Kim Dung quan tâm trình bày trong bài báo “Đào tạo theo HTTC: Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam” [18]. Tác giả đã nêu một số kinh nghiệm của thế giới trong xây dựng và phát triển hệ thống ĐT theo HTTC, kinh nghiệm của Việt Nam trong áp dụng hệ thống chuyển đổi tín chỉ trong ĐT.
Đồng thời đề xuất các kiến nghị liên quan tiến trình hòa nhập về nội dung ĐT, 10 nhu cầu của SV cũng như của xã hội. Nhà khoa học Lê Viết Khuyến có đề tài báo cáo“Quá trình chuyển đổi quy trình ĐT qua hệ tín chỉ trong các trường ĐH và CĐ Việt Nam” [43]. Tác giả nêu ra một trong những khuyến cáo là không nên nghĩ hệ tín chỉ chỉ thích hợp với các trường "giàu" mà chính các trường "nghèo" lại càng cần phải triển khai sớm hệ tín chỉ và muốn thành công phải làm theo kiểu “nghèo’. Nhằm làm rõ bản chất của HTTC, cơ chế hoạt động của phương thức ĐT này, tác giả Trần Thanh Ái đã công bố nghiên cứu quan trọng “Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Các nguyên lý, thực trạng và giải pháp” [1].
Tác giả đã công phu: Lược khảo tài liệu về các nguyên lý của nền giáo dục mới và các biện pháp thực hiện; Nêu một số vấn đề bất cập khi áp dụng ĐT theo HTTC; Kết luận và kiến nghị 10 điểm cần thực hiện để bảo đảm triển khai thành công chủ trương của Bộ GD-ĐT về ĐT theo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam. Hai nhà nghiên cứu Eli Mazur & Phạm Thị Ly nhấn mạnh về mục tiêu sư phạm của HTTC trong bài viết “Mục tiêu Sư phạm của hệ thống đào tạo theo tín chỉ Mỹ và những gợi ý cho cải cách GDĐH Việt Nam” [25] đã trình bày khái quát lịch sử và chức năng quản lý của HTTC Mỹ (xác định vai trò SV, GV, trường ĐH, Nhà nước); Các vấn đề tranh luận và tầm nhìn: HTTC trong các trường ĐH hiện đại; Bài học của Trung Quốc trong việc thực hiện HTTC ở Mỹ. Nghiên cứu các thành tố của QTĐT, tác giả Zjhra, Michelle (Phạm Thị Ly dịch) đã có bài báo “Chuyển sang học chế tín chỉ: Cần thay đổi CTĐT và vai trò của giáo viên” [79], đưa ra một số khuyến nghị liên quan đến CTĐT và xây dựng đội ngũ GV ở các trường ĐH của Việt Nam. Một số công trình nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện phương thức ĐT theo HTTC của một số nước châu Á đáng quan tâm của tác giả Lê Văn Hảo với bài viết “Tổ chức đào tạo đại học theo tín chỉ: Kinh nghiệm của Malaysia và so sánh với Việt Nam” [29]; tác giả Phạm Thị Ly nghiên cứu về “Chuyển đổi sang hệ thống đào tạo theo tín chỉ - kinh nghiệm của Trung Quốc” [94].
Nghiên cứu thực trạng áp dụng các thành tố ĐT theo HTTC, việc áp dụng phương pháp dạy học trong ĐT theo HTTC là một trong những vấn đề quan tâm trong ĐT và QLĐT theo HTTC được đề cập ở các Hội thảo “Đổi mới phương pháp dạy theo học chế tín chỉ” của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh [70], “Đổi mới phương pháp dạy học trong ĐT theo HTTC” của 11 Trường ĐH Sư phạm, ĐH Huế [72]. Về tổ chức các hình thức dạy học, KT-ĐG đáp ứng yêu cầu của ĐT theo HTTC, tác giả Tôn Quang Cường đã có bài viết phân tích “Các hình thức tổ chức DH trong mối quan hệ với phương pháp DH và phương pháp KT-ĐG trong đào tạo tín chỉ” [92]; nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Chính đề xuất xây dựng quy trình KT- ĐG kết quả học tập theo yêu cầu của HTTC ở Việt Nam. Đồng thời cũng nghiên cứu những điểm cần chú ý khi triển khai một quá trình DH nói chung và HTTC nói riêng [11].
Công tác cố vấn học tập được xem là một trong những hoạt động đặc trưng của ĐT theo HTTC so với niên chế học phần cũng được nhiều tác giả phân tích. Tác giả Phạm Thị Thanh Hải đã có bài viết “Một số nội dung của công tác cố vấn học tập trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Hoa Kì và kinh nghiệm đối với Việt Nam” [28]. Nhà nghiên cứu GDĐH Nguyễn Phúc Chỉnh cũng đã có bài nghiên cứu thực tế áp dụng ở một trường ĐH Sư phạm cụ thể “Đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường ĐH Sư phạm, ĐH Thái Nguyên [12] Nghiên cứu về sự chuyển đổi HTTC giữa Mỹ và các nước trên thế giới, Trường ĐH Penn State (Bang Pennsylvania, Mỹ) đã công bố công trình nghiên cứu “Study on the use of credit systems in higher education cooperation between the EU and the US” (Nghiên cứu về sử dụng HTTC trong sự hợp tác giáo dục đại học giữa Mỹ và châu Âu) [89]. Tác phẩm đã phân tích sự hình thành, phát triển và những đặc trưng của ĐT theo HTTC ở các trường ĐH của mỗi châu lục.
Trên cơ sở đó, so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa hệ thống ECTS (European Credit Transfer System – Hệ thống chuyển đổi tín chỉ châu Âu) và USCS (United State Credit Systems - HTTC Mỹ). Những kết quả nghiên cứu giúp ích cho việc tìm hiểu nguồn gốc, mô hình ứng dụng và sự thành công của ĐT theo HTTC tại các trường ĐH ở châu Âu và châu Mỹ. Hội thảo về ĐT theo HTTC do ASEM Education Secretariat (Văn phòng giáo dục các quốc gia thành viên Á, Âu) tổ chức vào tháng 4/2010 với sự tham dự của 40 chuyên gia GDĐH Á, Âu đã công bố kết quả nghiên cứu “Credit Systems and Learning Outcomes in ASEM Member Countries” (HTTC và kết quả học tập ở các nước thành viên ASEM) [80]. Nghiên cứu đã phân tích và giới thiệu về hệ thống đào tạo tín chỉ tại các nước thành viên của ASEM.