Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý đào tạo ngành TKTT tại các trường đại học. Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo ngành TKTT tại các trường đại học. Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý đào tạo ngành TKTT ở các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh. Chương 4: Biện pháp quản lý đào tạo ngành TKTT ở các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh.
8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGÀNH THIẾT KẾ THỜI TRANG Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Hƣớng nghiên cứu về đào tạo và đào tạo ngành thiết kế thời trang ở trƣờng đại học Hướng nghiên cứu về đào tạo ở trường đại học được các nhà nghiên cứu quan tâm đặc biệt. Bởi lẽ, đào tạo là hoạt động chủ đạo của các trường đại học, quyết định chất lượng và thương hiệu của nhà trường. Do vậy, các nghiên cứu về vấn đề này được tiến hành khá nhiều.
Trong đó gồm các hướng nghiên cứu như: Hướng nghiên cứu về đảm bảo chất lượng các đào tạo; Hướng nghiên cứu về đào tạo theo tiếp cận năng lực; Đào tạo theo tiếp cận chuẩn đầu ra, … Dưới đây có thể nêu dẫn cụ thể như sau: 1. Hướng nghiên cứu về đảm bảo chất lượng đào tạo ở trường đại học Tại các trường đại học hiện nay, đảm bảo chất lượng đào tạo được xem là nhiệm vụ trọng tâm. Do vậy, các trường đại học đều chú trọng vào việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo. Đi đầu trong lĩnh vực này là các trường đại học ở Mỹ.
Trong đó, hệ thống đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học Mỹ bao gồm cả đánh giá ngoài và đánh giá trong cũng như kiểm định giáo dục đại học và tự đánh giá của các trường đại học [93]. Các trường đại học ở Nga cũng rất chú trọng tới đảm bảo chất lượng. Tại các trường đại học Nga, đảm bảo chất lượng được coi là tất cả các đào tạo của trường đại học hướng đến chất lượng. Bởi vì, mục tiêu chiến lược chính phủ Nga trong lĩnh vực giáo dục được nêu trong Học thuyết phát triển kinh tế - xã hội dài hạn của Nga đến năm 2021 đó là nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu của phát triển đổi mới kinh tế, đáp ứng nhu cầu hiện nay của xã hội.
Mặc khác, việc hội nhập vào Châu Âu đã buộc các trường đại học Nga phải nâng cao chất lượng các đào tạo [93]. 9 Ở các nước Đông Nam Á, việc xác định hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo cũng được chú trọng. Do vậy, tổ chức các Bộ trưởng giáo dục Đông Nam Á (2003), trong nghiên cứu về “Khung đảm bảo chất lượng trong khu vực” đã chỉ ra: Hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo bao gồm: cơ cấu tổ chức, các thủ tục, các quá trình và các nguồn lực cần thiết của các cơ sở đào tạo dùng để thực hiện các đào tạo trong nhà trường. Trong đó xác định rõ các tiêu chuẩn, tiêu chí và các chỉ số cụ thể do nhà nước ban hành, để nâng cao và liên tục cải tiến chất lượng đào tạo nhằm thoả mã nhu cầu của người học, nhu cầu và yêu cầu của thị trường lao động [79].
Cũng theo hướng nghiên cứu này, tác giả Freeman (1994), với tác phẩm “Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đào tạo”, đã khẳng định, đảm bảo chất lượng là một cách tiếp cận mà công nghiệp sản xuất sử dụng nhằm đạt được chất lượng tốt nhất. Đảm bảo chất lượng là một cách tiếp cận có hệ thống nhằm xác định nhu cầu thị trường lao động và điều chỉnh các phương thức làm việc nhằm đáp ứng được các nhu cầu đó [69]. Tác giả Petros Kefalas và các cộng sự (2003), cũng đã khẳng định rằng, một hệ thống đảm bảo chất lượng bao giờ cũng phải bao gồm các tiêu chuẩn chất lượng như: chương trình học tập hiệu quả, đội ngũ giảng viên, khả năng sử dụng cơ sở hạ tầng có s n, phản hồi tích cực từ học viên, sự hỗ trợ từ các bên liên quan, thị trường lao động [77]. Các tác giả Navigation, search (1997), đã công bố tác phẩm “Cơ quan đảm bảo chất lượng giáo dục đại học”, nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mỗi cơ sở đào tạo có một quy trình đảm bảo chất lượng nội bộ riêng.
cơ quan đảm bảo chất lượng thực hiện đánh gái và kiểm soát chất lượng bên ngaofi bằng cách tham khảo các cơ sở giáo dục đại học, dạy nghề, để đưa ra báo cáo về các ưu điểm và các khuyến nghị để các cơ sở dạy nghề tự cải thiện [76]. Hướng nghiên cứu về đào tạo theo các cách tiếp cận và cơ sở khoa học khác nhau Hướng nghiên cứu về đào tạo theo các cách tiếp cận và cơ sở khoa học khác nhau gồm có các nghiên cứu về đào tạo theo tiếp cận năng lực, tiếp cận chuẩn đầu ra, tiếp cận việc làm, TQM, CIPO. Dưới đây sẽ nêu dẫn các nghiên cứu đi theo hướng này. 10 Đào tạo theo tiếp cận năng lực xuất hiện tại Mỹ từ những năm 70 của thế kỷ trước, cho tới những năm 80, đào tạo theo tiếp cận năng lực đã được triển khai thực hiện nhiều cơ sở đào tạo trên khắp nước Mỹ.
Cho đến hiện nay, đào tạo theo tiếp cận năng lực đang là một xu hướng nghiên cứu được quan tâm hàng đầu. Điều này khẳng định tính thời sự, tính thực tiễn của đào tạo theo tiếp cận năng lực trong thực tiễn. Có thể nêu dẫn một số nghiên cứu cụ thể đi theo hướng này như sau: Tác giả Clark, F.(1976) trong tác phẩm “Đặc điểm của chương trình giảng dạy dựa trên năng lực”, (Characteristics of the competency- based curriculum) [65] đã khẳng định đào tạo dựa trên năng lực xuất hiện đầu tiên ở Mỹ. Các chương trình giảng dạy nhấn mạnh vào đào tạo hơn là dạy và học theo lối truyền thống.
Mục tiêu là hướng tới đánh giá khả năng vận dụng kiến thức được học của học sinh vào các tình huống công việc thực tế. Mô hình giáo dục này phát triển mạnh mẽ vào những năm 70 ở Mỹ và sau đó lan rộng ra quốc gia khác. Tuy nhiên, mô hình này đầu tiên chủ yếu được áp dụng trong lĩnh vực đào tạo nghề. Trong những thập niên gần đây, các nền giáo dục tiến bộ đã đưa mô hình này vào áp dụng trong giáo dục phổ thông và đại học.
Trong công trình này, đã chỉ ra những nguyên tắc khi áp dụng tiếp cận năng lực trong đào tạo và đặt trọng tâm vào việc phát triển chương trình đào tạo dựa trên năng lực. Trong đó, tác giả nhấn mạnh, để phát triển các chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực cần phải xác định rõ đầu ra của người học, cách thức sử dụng phương pháp, hình thức, phương tiện dạy học, tập trung vào việc học của học sinh chứ không phải hoạt động dạy của giáo viên, đảm bảo chất lượng đào tạo, …[89]. Các tác giả Taylor & Francis Groups (1994), cũng đã nghiên cứu và đưa ra những nhận định về đào tạo theo tiếp cận năng lực. Trong đó, nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc học tập dựa trên nhu cầu xã hội hay là năng lực có thể xem là trọng tâm đối với công tác nghiên cứu và triển khai dưới sự tài trợ của Hội đồng quốc gia về đào tạo nghề nghiệp và cơ quan quản lý đào tạo được thực hiện ở các 11 trường đại học và cao đẳng khác nhau nhưng kết quả cho thấy giáo dục đại học ít được hưởng lợi từ các kết quả nghiên cứu và vì vậy người ta đã ít quan tâm đến việc nghiên cứu lĩnh vực này và áp dụng nó trong thực tiễn [81].
Cũng với công trình nghiên cứu và những khẳng định của các tác giả Taylor & Francis Groups (1994) nêu trên, tác giả Harris et al (1995), cũng đã công bố kết quả nghiên cứu của mình thông qua công bố có tự đề “Giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực”, (Competencybased Education and Training: Between a Rock and a Whirlpool). Tác giả cho rằng đào tạo theo tiếp cận năng lực phát huy tối đa năng lực riêng của mỗi người học, giúp người học tự tìm tòi, khám phá tri thức dựa trên sở thích và mối quan tâm riêng, giúp người học làm chủ tri thức và vận dụng nó vào thực tế cuộc sống [71]. Tác giả Tom Lowrie (1999), cũng đã công bố công trình nghiên cứu có tựa đề “Đổi mới chính sách trong lĩnh vực đào tạo nghề: vai trò của giáo viên trong môi trường dựa theo năng lực”, (The role of instructors in a competency- based environment). Tác giả đã nhận định rằng, giáo viên muốn có được năng lực đáp ứng được chuẩn giáo viên cần tham gia các khoá tập huấn, bồi dưỡng giáo viên tại nơi làm việc, hỗ trợ từ đồng nghiệp và luôn phải rèn luyện [83].
Theo hướng nghiên cứu này tác giả Fletcher S. Tác giả đã đề xuất một hướng dẫn quan trọng đối với các nguyên tắc then chốt, các phương pháp, ý nghĩa và lợi ích của các kỹ thuật đánh giá theo năng lực và đặc biệt cần phải xác lập các tiêu chuẩn, tiêu chí năng lực, tập hợp các minh chứng năng lực và so sánh minh chứng với chính các tiêu chuẩn, tiêu chí đã xây dựng để đánh giá năng lực của cá nhân [70]. Tác giả Thomas Deissinger và Slilke Hellwig (Đức) năm 2011, đã công bố bài báo có nhan đề: “Cấu trúc và chức năng của đào tạo dựa vào năng lực: một quan điểm so sánh), “Structure and function of competency-based education and training” [84]. Bài viết đã trình bầy sâu về triết lý đào tạo dựa trên năng lực và cung cấp một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về chức năng đào tạo dựa trên năng lực ở trường đại học.
Trong đó bao gồm: lập kế hoạch, phát triển chương trình giảng dạy, công nhận kết quả. 12 Năm 2014, tiếp theo các nghiên cứu đào tạo dựa trên tiếp cận năng lực, tác giả Johnstone & Soares (2014), đã đưa ra nhận định rằng để thực thi mô hình giáo dục năng lực thành công đòi hỏi phải có sự nghiên cứu và xem xét thận trọng. Đặc biệt phải chú trọng tới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục ở tất cả các cấp độ từ trung ương đến địa phương. Khi các năng lực được xây dựng, thì đòi hỏi phải được triển khai đồng bộ trong thực tiễn và được chuyển tải thành các chủ đề, nội dung dạy phù hợp, giúp phát triển và hiện thực hóa các năng lực đó ở người học [72].
Ở Việt Nam các nghiên cứu về đào tạo theo tiếp cận năng lực cũng đã được thực hiện.